Tìm kiếm tin tức
Liên kết Website
Chính Phủ
KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ-XÃ HỘI ĐẾN NĂM 2010
Ngày cập nhật 04/08/2008

.

 ỦY BAN NHÂN DÂN    CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN QUẢNG ĐIỀN              Độc lập-Tự do-Hạnh phúc
 
    Số: 314 /BC-UBND       Quảng Điền, ngày 13 tháng 12 năm 2005
 
BÁO CÁO
 KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ-XÃ HỘI
THỜI KỲ 2006-2010.
 
Căn cứ vào các Nghị quyết của Trung ương, của Tỉnh uỷ và tình hình thực tế của địa phương; thực hiện sự chỉ đạo của Ban Thường vụ Huyện uỷ, UBND hụyên Quảng Điền xin trình báo cáo tình hình thực hiện nghị quyết đại hội Đảng bộ huyện lần thứ 10, phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội thời kỳ 2006-2010 như sau:
 
PHẦN THỨ NHẤT
TÌNH HÌNH THỰC HIỆN NHIỆM VỤ PHÁT TRIỂN
KINH TẾ- XÃ HỘI THỜI KỲ 2001-2005.
 
 
Qua gần 5 năm tiếp tục thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, Nghị quyết đại hội Đảng bộ Tỉnh lần thứ 12 và Nghị quyết đại hội Đảng bộ huyện lần thứ 10, tình hình kinh tế-xã hội của huyện có bước phát triển và mở ra một số triển vọng mới; tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được giữ vững; hệ thống chính trị các cấp được củng cố và tăng cường. Tuy vậy, vẫn còn nhiều mặt yếu kém tồn tại, khó khăn phát sinh và những thách thức đòi hỏi phải tập trung cao độ nổ lực để vượt qua.
A- KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC:
Được sự quan tâm lãnh, chỉ đạo và đầu tư của Tỉnh, cùng với môi trường thuận lợi của đất nước và tiền đề tạo được trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, quân, dân toàn huyện đã tăng cường đoàn kết, phát huy nội lực và tranh thủ các nguồn lực có được, phấn đấu vượt qua khó khăn và đạt được bước tiến quan trọng về nhiều mặt.
Trong số 15 chỉ tiêu cơ bản, đã thực hiện đạt 13 chỉ tiêu và 02 chỉ tiêu không đạt.
* Các chỉ tiêu đã đạt được bao gồm:
1)Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm đạt 7,6% ( chỉ tiêu 7-8%/năm).
2)Giá trị gia tăng CN và XD tăng bình quân 11,9%/năm (chỉ tiêu 8,9%/năm).
3)Giá trị gia tăng các ngành dịch vụ tăng bình quân hàng năm đạt 9,9% ( chỉ tiêu 9,8%/năm ).
4)Tổng sản lượng lương thực có hạt bình quân hàng năm đạt 38.514 tấn (chỉ tiêu 35.000-36.000 tấn).
5)Thu ngân sách bình quân đạt 5,033 tỷ đồng ( chỉ tiêu trên 5 tỷ đồng/ năm).
6)Tổng mức đầu tư bình quân hàng năm tăng 18,2% ( chỉ tiêu 18%/năm ).
7)Tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên 1,130/0 ( chỉ tiêu 1,40/0).
8)Hoàn thành phổ cập THCS toàn huyện năm 2002 (vượt chỉ tiêu 3 năm).
9)Thu nhập bình quân đầu người 4,71 triệu đồng/người/năm (chỉ tiêu 4-4,5 triệu đồng/người/ năm).
10)Tỷ lệ hộ dùng điện đạt trên 95% (chỉ tiêu 95%).
11)Có 100% cơ quan, 80% làng đăng ký xây dựng văn hoá; trong đó có 40% số làng và 90% cơ quan được công nhận (đạt 100% chỉ tiêu).
12)Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng dưới 5 tuổi còn dưới 23% ( chỉ tiêu 23% ).
13)Tỷ lệ hộ dùng nước sạch, hợp vệ sinh đạt 78% (chỉ tiêu 75%).
*Còn lại 2 chỉ tiêu không đạt đó là:
1)Tỷ lệ hộ nghèo năm 2005 còn 7,6% (chỉ tiêu dưới 5%).
2)Nhựa hoá 80% đường tỉnh lộ, bê tông hoá 55,6% đường giao thông nông thôn, kiên cố hoá kênh mương đạt 82,6% ( chỉ tiêu 100% ).
Kết quả đạt được thể hiện chủ yếu ở các mặt sau:
1) Kinh tế tiếp tục tăng trưởng, tổng giá trị gia tăng bình quân hàng năm 7,6%. Tỷ suất sản phẩm hàng hoá ngày càng tăng, nhiều mặt hàng có giá trị đã có sức cạnh tranh trên thị trường. Cơ cấu kinh tế có bước chuyển dịch theo hướng tiến bộ. Trong đó tổng sản phẩm ngành nông nghiệp chiếm 57,3% (chỉ tiêu 63%); CN-XD chiếm 13,2% (chỉ tiêu 12%); Dịch vụ chiếm 29,5% (chỉ tiêu 25%).
Đã tập trung nổ lực để tạo bước tiến trong 03 chương trình kinh tế trọng điểm đó là:
a) Chương trình phát triển nông nghiệp:
Giá trị gia tăng bình quân hàng năm của ngành nông nghiệp đạt 101,622 tỷ đồng, chiếm 62,7% trong tổng giá trị gia tăng toàn huỵên, tăng bình quân 6,1%/năm. Giá trị thu được trên một đơn vị diện tích canh tác đến cuối năm 2005 là 23,5 triệu đồng/ha/năm.
+ Lĩnh vực trồng trọt tiếp tục phát triển theo hướng đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào thâm canh và chuyển dịch cơ cấu sản xuất. Cây lúa tiếp tục thể hiện vai trò chủ lực. Với các biện pháp thâm canh đồng bộ và nâng cao chất lượng giống, đã đạt được năng suất bình quân hàng năm 49,2 tạ/ha/vụ (năm 2004 đạt 53,3 tạ). Sản lượng lương thực cây có hạt bình quân hàng năm đạt 38.514 tấn.
Đã mở rộng quy mô trồng rau màu và cây công nghiệp ngắn ngày từ 1.510,9 ha (chiếm 14,6%) lên 2.335 ha (chiếm 22% trong tổng diện tích gieo trồng). Cơ cấu cây trồng được chuyển đổi linh hoạt theo nhu cầu của thị trường. Tiếp tục phát triển quy mô các vùng chuyên canh tập trung. Những nhóm cây có quy mô gieo trồng lớn hàng năm là: lạc 931,3 ha; rau quả xanh 735,6 ha; đậu đổ 178,2 ha; sắn 335,5 ha, mía 81,3 ha.
+ Chương trình cải tạo vườn tạp được quan tâm hơn, đến nay đã có 183,4 ha chuyên canh rau màu và cây ăn quả phân tán; tạo được yếu tố ban đầu cho quá trình hình thành mô hình sản xuất hàng cây cảnh ở vùng: Vinh, Phú, Thọ, Sịa với 284 gia đình tham gia.
Hình thành vùng sản xuất mới gồm 64 trang trại với 320,1ha canh tác ở vùng cát nội đồng, xây dựng được một số cơ sở sản xuất nấm ăn và nấm dược liệu.
+ Ngành chăn nuôi được duy trì cả về chất lượng và số lượng, với các hình thức hộ gia đình, gia trại và trang trại. Giá trị gia tăng bình quân hàng năm đạt 39,569 tỷ đồng, tăng 20,2% so với đầu kỳ. Tại thời điểm 1/10/2004, tổng đàn lợn 35.237 con, tăng 35,9 % (trong đó lợn nái 9.836 con, tăng 48,4%), sản lượng lợn 3.050 tấn/năm. Trâu, bò, dê 3.241 con, tăng 3,5% ( trong đó bò 1.230 con, tăng 24,0%). Đàn gia cầm là 344.800 con. Chương trình nạc hoá đàn lợn, lai sind hoá đàn bò đang được triển khai nhân rộng trên địa bàn.
+ Sản xuất nông nghiệpddax tạo được một số nhân tố mới về ứng dụng tiến bộ kỹ thuật sản xuất có triển vọng tích cực. Đó là đã triển khai tổ chức sản xuất giống lúa cấp 1 với 92,5 ha ở các hợp tác xã nông nghiệp, mở ra khả năng sản xuất, cung ứng nhu cầu giống lúa cấp 1 trên địa bàn. Một số giống lúa mới có chất lượng và hiệu quả cao như: ST3, HT1 và các giống lạc đã được khẳng định, chuẩn bị cho việc hình thành thương hiệu nông sản của địa phương. Các mô hình lúa xen cá trên chân đất thục, mô hình kết hợp nông lâm và trồng trọt với chăn nuôi trên chân đất cát mở ra khả năng tăng hiệu quả kinh tế trên 1 đơn vị diện tích canh tác.
Kết quả bước đầu về tổ chức chăn nuôi theo quy trình công nghiệp, chăn nuôi bò thịt chất lượng cao đã mở ra khả năng phát triển mới trong ngành chăn nuôi.
b) Chương trình phát triển thuỷ sản:
- Sản lượng thuỷ sản bình quân hàng năm đạt 3.485 tấn, với 36,540 tỷ đồng, tăng bình quân hàng năm 12,9% và tăng 65,6% so với đầu kỳ. Trong đó: từ khai thác 2.756 tấn, nuôi trồng 729 tấn; sản phẩm có giá trị xuất khẩu 447,5 tấn.
- Đã sắp xếp một bước và mở rộng vùng nuôi trồng thuỷ sản, đa dạng hoá hình thức tổ chức sản xuất theo mô hình nuôi ao hồ, lồng chạn và xen canh để khai thác lợi thế tiềm năng của từng vùng. So với năm 2001, diện tích ao hồ nuôi trồng từ 543 ha tăng lên 646,1ha. Số lồng, chạn tăng từ 365 cái lên 849 cái. Phát triển mạnh nuôi cá nước ngọt ở vùng phía Tây phá Tam Giang và sông hồ, chuyển 76,5 ha ruộng lúa ở vùng ô sâu và nhiễm mặn, sản xuất kém hiệu quả sang nuôi trồng thuỷ sản.
- Coi trọng việc bồi dưỡng kỹ năng tổ chức sản xuất, xen canh, đa dạng hoá vật nuôi, bước đầu khơi thông thuỷ đạo trong vùng nuôi trồng để hạn chế phát sinh dịch bệnh.
- Đã gắn khai thác thuỷ hải sản trên phá Tam Giang với bảo vệ nguồn lợi, hạn chế dần các hoạt động khai thác có tính huỷ diệt. Bước đầu triển khai sắp xếp lại ngư trường, dở bỏ một bộ phận nò, sáo có ảnh hưởng xấu đến môi trường sinh thái và luồng lạch giao thông. Hoạt động khai thác biển đạt được kết quả nhất định, kết hợp khai thác với chế biến, nhờ vậy giá trị hàng hoá tăng lên đáng kể.
- Một số nhân tố mới trong nuôi trồng thuỷ sản đã được hình thành có triển vọng tích cực như: mô hình nuôi cá đặc sản ở vùng nước lợ tạo ra khả năng tổ chức nuôi luân canh, xen canh cùng với tôm sú để hạn chế tình trạng ô nhiễm môi trường; mô hình nuôi ba ba có khả năng phát triển rộng ở vùng trang trại trên chân đất cát nội đồng; đã hình thành được cơ sở sản xuất tôm giống, ba ba giống và giống cá nước ngọt.
c) Chương trình phát triển công nghiệp và dịch vụ:
+ Lĩnh vực công nghiệp và xây dựng có bước phát triển đáng kể, giá trị gia tăng hàng năm đạt 24,437 tỷ đồng, tăng bình quân hàng năm 11,9% và tăng 42,6% so với đầu kỳ. Các ngành có tốc độ tăng cao là: xây dựng, cơ khí gia công.
-Các ngành xây dựng, mộc dân dụng và cơ khí gia công đã tham gia vào thị trường ngoài huyện; ngành thêu ren tiếp tục phát triển quy mô ở các xã vùng phía Nam.
-Ngành chế biến nông sản có chuyển biến bước đầu với các sản phẩm: lợn sữa quay, hải sản qua sơ chế; xây dựng một số cơ sở giết mổ gia súc tập trung.
- Công nghệ và tư liệu sản xuất trong các ngành công nghiệp nói chung được đổi mới một bước theo hướng công nghiệp hoá-hiện đại hoá.
+ Lĩnh vực dịch vụ đã có bước phát triển đáng kể, từng bước đáp ứng nhu cầu của sản xuất và đời sống. Giá trị gia tăng bình quân hàng năm 58,600 tỷ đồng, tăng bình quân 9,9%/năm và tăng 47,4% so với đầu kỳ. Các ngành hàng có tốc độ tăng cao là vận tải, dịch vụ sinh hoạt, Bưu chính viễn thông.
+ Các cơ sở tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ tiếp tục được phát triển ở các trung tâm cụm xã, thị trấn, trung tâm cụm thôn, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội của địa phương.
2) Hệ thống cơ sở hạ tầng tiếp tục phát triển và nâng cấp, tăng thêm năng lực sản xuất mới:
+ Tổng giá trị đầu tư phát triển trên địa bàn ước đạt trong 5 năm 299,9 tỷ đồng, bình quân 59,97 tỷ đồng/năm, và tăng 43,5% so với đầu kỳ. Trong đó:
- Ngân sách Nhà nước: 186,052 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 62%.
- Đầu tư của nhân dân và các thành phần kinh tế: 95,605 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 31,9%.
- Nguồn ngoài nước: 18,423 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 6,1%.
+ Cơ cấu đầu tư đảm bảo theo yêu cầu phát triển của các lĩnh vực bao gồm:
- Phát triển kinh tế: 143,025 tỷ đồng, chiếm 47,7%.
- Y tế, giáo dục, văn hoá: 39,535 tỷ đồng, chiếm 13,2%.
- Dân sinh và an ninh-quốc phòng: 117,34 tỷ đồng, chiếm 39,1%.
+ Cùng với thời kỳ trước, kết quả đầu tư đã nhựa hoá và bê tông hoá về chiều dài 35/44 km đường quốc lộ và tỉnh lộ( đạt tỷ lệ 80% ); bê tông hoá 45/81km đường giao thông nông thôn ( đạt tỷ lệ 55,6% ); 53,3/65 km kênh mương thuỷ lợi (đạt tỷ lệ 82,6% ), hệ thống thuỷ lợi đảm bảo chủ động tưới tiêu cho 60,1% diện tích sản xuất nông nghiệp, kiên cố hoá 60% số phòng học và 63,6% số trạm y tế; 98,9% số thôn có lưới điện và 25,5% số thôn có hệ thống cấp nước tập trung.
+Công tác quy hoạch đã được quan tâm và thực hiện khá đồng bộ. Đến nay, đã hoàn thành quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội toàn huyện, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch thuỷ lợi, quy hoạch phát triển nuôi trồng thuỷ sản, quy hoạch phát triển hệ thống cơ sở giáo dục, quy hoạch xây dựng trung tâm huyện lỵ và trung tâm các xã đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020.
3) Quan hệ sản xuất đã từng bước đổi mới và phát triển phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế sản xuất hàng hoá, cơ chế của nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa:
+ Đã thực hiện hoàn thành đổi mới HTX nông nghiệp theo Luật HTX. Phần lớn các hợp tác xã sau chuyển đổi đã phát huy tốt vai trò trên các lĩnh vực: quy hoạch và định hướng tổ chức sản xuất, tổ chức kiến thiết cơ sở hạ tầng cho sản xuất, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, dịch vụ một số yếu tố đầu vào của sản xuất, tham gia thực hiện các chính sách xã hội. Qua đánh giá, đến nay 50% số hợp tác xã mạnh, 30% hợp tác xã trung bình và 20% hợp tác xã yếu kém.
+ Hoàn thành nhiệm vụ “Dồn điền đổi thửa” ở 23/23 hợp tác xã nông nghiệp, gắn với quy hoạch tổ chức lại sản xuất, nâng cấp và phát triển một bước quan trọng hệ thống giao thông và thuỷ lợi nội đồng, hình thành vùng sản xuất hàng hoá tập trung chuyên canh, phát huy vai trò tự chủ của mỗi nông hộ. Số hộ làm ăn giỏi ngày càng tăng. Mô hình kinh tế trang trại phát triển đa dạng như: nuôi trồng thuỷ sản, sản xuất nông lâm kết hợp ở vùng cát nội đồng.
+ Đã tác động, thúc đẩy sự phát triển của các lực lượng sản xuất xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế đầu tư phát triển sản xuất-kinh doanh phù hợp với phương hướng phát triển của địa phương. Trong 5 năm, đã hình thành thêm được 24 doanh nghiệp ( nâng tổng số doanh nghiệp toàn huyện lên 27 doanh nghiệp ) trên lĩnh vực công thương nghiệp và dịch vụ, bao gồm 12 hợp tác xã, 01 công ty trách nhiệm hữu hạn, 10 doanh nghiệp tư nhân, 01 công ty cổ phần.
+ Đã tích cực phối hợp và tạo điều kiện cho các đơn vị kinh tế quốc doanh trên địa bàn tiếp tục phát triển.
4) Sự nghiệp giáo dục, đào tạo và văn hoá có bước tiến tích cực:
a) Giáo dục và đào tạo:
- Tỷ lệ huy động vào trường so với số lượng trong độ tuổi tăng so với đầu kỳ; trong đó: tiểu học 99,6%, tăng 0,6%; THCS 87%, tăng 4%; THPT 55%, tăng 5%. Ngành học mầm non được duy trì và củng cố. Tỷ lệ huy động so với đầu kỳ: mẫu giáo 73,4%, tăng 3,8% (trong đó số cháu 5 tuổi là 94%, tăng 4,5%); nhà trẻ 6,38%, tăng 3,12%.
- Chất lượng giáo dục toàn diện có nhiều chuyển biến tích cực. So với đầu kỳ, về học lực, tỷ lệ học sinh giỏi ngành học phổ thông tăng 2%, yếu kém giảm 2,5%, về hạnh kiểm yếu kém giảm 3%/năm.
- Đến năm 2002, đã hoàn thành phổ cập giáo dục THCS trong toàn huyện. Bước đầu đã hình thành được 6 trung tâm học tập cộng đồng ở các xã, thị trấn nhằm không ngừng đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân.
- Đã nâng cao năng lực hoạt động của Trung tâm kỹ thuật tổng hợp hướng nghiệp và dạy nghề, xây dựng Trung tâm dạy nghề. Hàng năm đã chiêu sinh và đào tạo 2.867 học viên, từng bước đáp ứng yêu cầu chuyển giao công nghệ vào sản xuất và chuẩn bị cho bước nâng cao tỷ lệ lao động đã qua đào tạo trong tổng lực lượng xã hội. Đã thành lập Trường PTPT Hoá Châu và đã từng bước hoàn thiện mạng lưới cơ sở giáo dục trên địa bàn. Tăng tỷ lệ số trường đạt chuẩn quốc gia từ 6,2% lên 12,4%.
- Phong trào khuyến học phát triển sâu rộng và đa dạng, góp phần đẩy mạnh chủ trương xã hội hoá giáo dục và thúc đẩy sự nghiệp giáo dục phát triển.
b) Văn hoá:
Cuộc vận động xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở đã được đẩy mạnh. Đến nay đã có 100% cơ quan, 98% làng đăng ký xây dựng văn hoá; trong đó có 50% cơ quan và 53% làng đạt danh hiệu văn hoá. Cùng với thư viện Nguyễn Chí Thanh, đã phát triển hệ thống bưu điện văn hoá khắp các xã, nâng cấp cơ sở vật chất và chất lượng hoạt động của hệ thống đài truyền thanh huỵên và các xã, thị trấn. Số hộ có phương tiện nghe nhìn tăng từ 60% lên 85%, hoạt động thông tin cổ động được đẩy mạnh, bước đầu đáp ứng nhu cầu thông tin của nhân dân. Đã lập đề án và đang xúc tiến triển khai xây dựng huyện văn hoá. Đồng thời với quá trình phát triển hệ thống thiết chế văn hoá, đã coi trọng công tác bảo tồn bảo tàng, tăng thêm 1 cơ sở được xếp hạng di tích văn hoá lịch sử cấp quốc gia.
Các hoạt động văn thể mỹ được duy trì và phát triển, một số môn thể thao truyền thống được phục hồi, góp phần vun đắp và nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân.
5) Các chính sách xã hội và các vấn đề xã hội bức bách đã được giải quyết một bước quan trọng:
a) Công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu được coi trọng. Đã chủ động kiểm soát được dịch bệnh, căn bản hoàn thành thanh toán các bệnh xã hội. Số trạm y tế có Bác sĩ tại chỗ tăng từ 45,5% lên 72,7% ( hiện nay tính cả số điều động trên xuống là 100% ), có nữ hộ sinh tăng từ 54,4% lên 100%. Việc bồi dưỡng chuyên môn và tăng cường trang thiết bị được quan tâm, năng lực điều trị của các cơ sở y tế có bước tiến bộ, đáp ứng tốt hơn yêu cầu bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ của nhân dân.
b)Đã tích cực thực hiện chính sách đền ơn đáp nghĩa; căn bản hoàn thành việc giải quyết hồ sơ đề nghị suy tôn liệt sỹ, công nhận thương binh, tặng thưởng danh hiệu người có công trong hai cuộc kháng chiến. Hoàn thành chương trình xoá nhà tạm bợ cho gia đình hộ chính sách. Có 100% “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” đã được các cơ quan, tổ chức xã hội đảm nhận phụng dưỡng suốt đời.
c) Các vấn đề xã hội bức xúc được quan tâm giải quyết một cách cơ bản. So với đầu kỳ số hộ nghèo giảm từ 4.879 hộ xuống còn 1.098 hộ (theo tiêu chí củ), chiếm 7,6%. Số cư dân thuỷ diện giảm từ 360 hộ xuống còn 210 hộ. Tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên giảm từ 1,41% xuống còn 1,13%, số trẻ em suy dinh dưỡng giảm từ 30,5% xuống còn dưới 23 %. Số gia đình ở nhà tạm giảm từ 20% xuống khoảng 5,1%.
d) Thông qua định hướng phát triển sản xuất kinh doanh, cung cấp thông tin về thị trường lao động, đã tạo cho người lao động có điều kiện tìm việc làm phù hợp, giảm thời gian nông nhàn trong ngành nông nghiệp từ 40% xuống 30%/năm, vận động được trên 150 người đi xuất khẩu lao động.
6) Lĩnh vực khoa học và công nghệ có tiến bộ:
- Đã quan tâm chỉ đạo việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất-kinh doanh, nhất là đẩy mạnh việcchuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi; dự tính, dự báo phòng trừ sâu bệnh nhằm nâng cao giá trị trên một đơn vị canh tác từ 18 triệu lên 23,5 triệu đồng.
- Đã triển khai nhiều dự án nghiên cứu thực nghiệm về sản xuất, chăn nuôi với việc lồng ghép các chương trình, tạo ra được một số mô hình có hiệu quả để nhân rộng trên địa bàn.
- Đẩy mạnh việc chuyển giao công nghệ và bảo vệ môi trường nuôi trồng thuỷ sản, mở hướng sản xuất mới cho việc nuôi trồng thuỷ sản vùng nước ngọt, vùng trong đê và chân ruộng trũng; đồng thời từng bước tiến tới hạn chế dần ô nhiễm môi trường, dịch bệnh vùng nuôi trên phá Tam Giang.
- Đã tăng cường việc ứng dụng công nghệ thông tin và tin học trong công tác quản lý, chỉ đạo. Hiện nay hầu hết các cơ quan, đơn vị trường học đều được trang bị máy vi tính.
7) Nền quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân tiếp tục được củng cố và tăng cường. Trật tự xã hội được duy trì, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình phát triển kinh tế-xã hội:
a) Đã đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng "cơ sở an toàn làm chủ sẵn sàng chiến đấu" và "phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc"; không ngừng vun đắp thế trận lòng dân, giải quyết kịp thời các mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân; kết hợp sức mạnh của toàn dân với hoạt động của cơ quan chuyên môn để chủ động đấu tranh ngăn chặn và làm thất bại âm mưu phá hoại của kẻ địch, giữ vững ổn định chính trị.
b) Chương trình quốc gia phòng chống tội phạm được triển khai một cách tích cực, kết hợp chặt chẽ các biện pháp: giáo dục, phòng ngừa và răn đe để hạn chế phát sinh của tội phạm; Coi trọng nhiệm vụ bảo vệ kỹ cương và môi trường học đường, qua đó, đã giữ vững về cơ bản tình hình trật tự xã hội.
c) Đã thực hiện tốt nhiệm vụ quốc phòng và quân sự địa phương. Tiếp tục nâng cao một bước chất lượng của lực lượng vũ trang. Thường xuyên củng cố phương án sẵn sàng chiến đấu, nâng cao khả năng phòng thủ địa bàn và phòng chống bạo loạn. Hoàn thành tốt chỉ tiêu giao quân và kế hoạch huấn luyện, diễn tập hàng năm.
8) Thế trận lòng dân được củng cố, niềm tin của nhân dân đối với Đảng, với công cuộc đổi mới không ngừng được nâng lên:
Cùng với những thành tựu đạt được của đất nước, của toàn tỉnh trong công cuộc đổi mới, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân trong huyện không ngừng được cải thiện, quá trình dân chủ hoá về chính trị được phát huy; tăng cường công tác vận động quần chúng, gắn với các cuộc vận động mà nâng cao nhận thức và niềm tin, quyết tâm của nhân dân đối với sự nghiệp cách mạng; Không ngừng giáo dục nâng cao tinh thần cảnh giác, chủ động ngăn chặn và hạn chế tối đa mầm mống dễ gây mất ổn định chính trị, giữ vững trận địa tư tưởng.
B- NHỮNG HẠN CHẾ, YẾU KÉM VÀ NGUYÊN NHÂN:
I-HẠN CHẾ, YẾU KÉM:
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, tình hình của địa phương vẫn còn nhiều mặt yếu kém và khó khăn mới nảy sinh; các chương trình trọng điểm và các mũi đột phá chưa tạo được bước tiến mạnh mẽ, quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế còn chậm.
Có 2/15 chỉ tiêu chủ yếu chưa đạt kế hoạch theo chỉ tiêu Đại hội đề ra. Đó là: Tỷ lệ hộ nghèo và nhựa hoá đường tỉnh lộ, đường liên xã, bê tông hoá giao thông nông thôn và chương trình kiên cố hoá kênh mương.
Tại báo cáo này, UBND huỵên xác định những hạn chế, yếu kém nổi cộm, đang đối mặt trực tiếp trong bước phát triển của huyện.
1) Chưa thực hiện được mục tiêu tạo bước phát triển đột phá trong lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ, vì vậy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động xã hội và tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế còn chậm đó là:
- Tốc độ phát triển nhìn chung chậm và vẫn đang trong tình trạng lúng túng, trì trệ.
- Kỹ thuật sản xuất còn lạc hậu, chậm đổi mới kiểu dáng sản phẩm, vì vậy sức cạnh tranh trên thị trường còn thấp.
- Đội ngũ doanh nhân trên địa bàn còn ít, năng lực tổ chức sản xuất kinh doanh còn non kém trong cơ chế mới.
2)Sự phát triển của ngành thủy sản thiếu tính bền vững, lĩnh vực nuôi trồng bị khủng hoảng cục bộ, đã gây hệ quả tiêu cực đến quan hệ tín dụng:
Bên cạnh việc tăng quy mô, đa dạng hoá hình thức và giống nuôi đã đạt được một số kết quả tích cực nêu trên, lĩnh vực này đang có những tồn tại và phát sinh nổi cộm đó là:
-Chương trình đánh bắt xa bờ thất bại, năng lực khai thác biển giảm sút so với đầu kỳ.
-Vùng nuôi trồng thuỷ sản ở bờ Nam phá Tam Giang bao gồm xã: Quảng Phước, Quảng An và Quảng Thành, có 327,7 ha do ô nhiểm môi trường đã phát sinh dịch bệnh trầm trọng và kéo dài, nhiều cơ sở nuôi trồng bị thua lỗ nặng.
-Số cơ sở nuôi trồng thuỷ sản bị thua lỗ dẫn đến mất khả năng thanh toán nợ vay với số dư nợ tín dụng của Ngân hàng là 9,679 tỷ đồng, chiếm 21,27% số dư nợ tín dụng trong ngành nuôi trồng thuỷ sản.
3)Kết cấu hạ tầng và công trình đô thị nhìn chung vẫn trong tình trạng yếu kém, nhiều mặt tụt hậu so với các huyện trong Tỉnh, hệ thống giao thông nối với Tỉnh lỵ và các trung tâm lân cận chậm được cải thiện, vì vậy chưa tạo ra sức thu hút đầu tư từ bên ngoài vào địa bàn:
-Hệ thống giao thông nội bộ nhiều nơi xuống cấp trầm trọng, các tuyến giao thông huyết mạch đang được triển khai với tiến độ chậm.
-Hệ thống công trình thuỷ lợi mới đảm bảo tưới tiêu cho 60,1% diện tích canh tác, số diện tích còn lại vẫn trong tình trạng sản xuất thiếu ổn định và chi phí sản xuất cao.
- Năng lực sản xuất mới tăng thêm chưa nhiều.
4) Các lĩnh vực giáo dục- đào tạo, văn hoá-xã hội vẫn còn mặt bất cập:
a) Chất lượng giáo dục nhìn chung chưa đáp ứng nhu cầu của xã hội; kết quả phổ cập giáo dục THCS chưa vững chắc. Tỷ lệ trẻ huy động vào nhà trẻ còn thấp so với mặt bằng của tỉnh; số học sinh ở bậc THCS bỏ học còn nhiều.
b) Số lao động đã qua đào tạo còn thấp, chỉ đạt 12% trong tổng lao động xã hội, cả trong những ngành được xác định là mũi nhọn.
c) Cuộc vận động xây dựng đời sống văn hoá chưa thật sự đi vào chiều sâu; chưa đủ sức đẩy lùi một số tệ nạn xã hội; tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên vẫn còn cao; việc phát huy sức mạnh cộng đồng để xây dựng đời sống mới còn hạn chế.
d) Truyền thống cần cù, sáng tạo trong lao động, nhạy bén trong chọn hướng làm ăn chưa được khơi dậy; vẫn còn tâm lý bảo thủ, cầm chừng, ỷ lại, trông chờ Nhà nước trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân đang là sức ì của quá trình phát triển. Việc vận động nhân dân vùng ven biển để tạo ra lực lượng sản xuất mới đang là vấn đề khó khăn.
Cách phân bổ tài chính theo lối tiểu nông trong mỗi gia đình đang triệt tiêu phần lớn nguồn tích luỹ tái sản xuất mở rộng từ nội bộ.
5) Một số vấn đề xã hội vẫn đang còn nhiều khó khăn, tồn tại:
a) Bộ phận cư dân thuỷ diện và tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng vẫn còn lớn. Tốc độ gia tăng dân số có giảm nhưng chưa vững chắc, cuộc vận động xây dựng “cụm dân cư không có người sinh con thứ 3 trở lên” chưa mạnh.
b) Đời sống của một bộ phận nhân dân vẫn còn nhiều mặt khó khăn, mức thu nhập bình quân thấp, tỷ lệ hộ đói nghèo và cư dân thuỷ diện còn cao.
c) Cuộc vận động xuất khẩu lao động, là một trong những chương trình trọng điểm nhưng chưa tạo được chuyển biến mạnh; tỷ lệ lao động thiếu việc làm và lao động nông nhàn còn cao.
6)Công tác xây dựng hệ thống chính trị vẫn còn một số nhược điểm:
a)Năng lực tổ chức thực hiện nghị quyết của bộ máy quản lý điều hành chuyển biến chưa đều, có một số nơi tính chủ động, sáng tạo và quyết tâm trong hành động chưa cao. Vì thế có một số chủ trương, nghị quyết chưa được tổ chức thực hiện nghiêm túc và có hiệu quả.
b)Việc chỉ đạo giải quyết tình trạng yếu kém ở cơ sở có việc thiếu tập trung nên chậm dứt điểm. Công tác quy hoạch tạo nguồn cán bộ cho các chức danh chủ chốt ở cấp xã chưa được quan tâm đúng mức.
c)Nhiệm vụ cải cách hành chính chuyển biến chưa mạnh và chưa đều. Một số bộ phận trong hệ thống chính quyền chưa phát huy đầy đủ chức năng, nhiệm vụ được giao, gây ảnh hưởng không tốt đến quá trình thực hiện nhiệm vụ chính trị và lòng tin của nhân dân.
II-NGUYÊN NHÂN CỦA NHỮNG HẠN CHẾ, YẾU KÉM:
Những hạn chế, yếu kém trên do các nguyên nhân chủ yếu sau đây:
1)Trình độ, năng lực nắm bắt và vận dụng đường lối quan điểm của Đảng, chủ trương của cấp trên trong đội ngũ cán bộ chủ chốt ở cơ sở một số nơi còn hạn chế, có mặt còn bất cập trước yêu cầu mới. Chưa đủ sức làm bật dậy những khâu yếu của nền kinh tế, nhất là chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cải thiện môi trường và thu hút đầu tư, tìm kiếm thị trường và định hướng tổ chức sản xuất; khắc phục khó khăn ổn định lĩnh vực nuôi trồng thuỷ sản.
2)Chưa khơi dậy mạnh mẽ được quyết tâm của nhân dân vượt lên nghèo nàn lạc hậu, để trở thành phong trào thi đua sâu rộng và đều khắp trong huyện. Chưa quan tâm đúng mức việc vun đắp đội ngũ doanh nhân trong nền kinh tế sản xuất hàng hoá.
3)Do điều kiện địa lý có nhiều mặt bất lợi cho sự phát triển trong thời kỳ mới, lại thường bị thiệt hại lớn trong mùa bão lụt hàng năm. Tài nguyên thiên nhiên có khả năng mở rộng khai thác không còn nhiều.
C-NHẬN ĐỊNH CHUNG VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN:
I-NHẬN ĐỊNH CHUNG:
Qua gần 05 năm thực hiện Nghị quyết đại hội Đảng bộ huỵên lần thứ X, được sự quan tâm lãnh, chỉ đạo và đầu tư của Tỉnh, cùng với tiền đề tạo được, quân, dân toàn huyện đoàn kết, phát huy nội lực, phấn đấu vượt lên khó khăn và đã đạt được những kết quả đáng kể trên các lĩnh vực. Đó là: kinh tế tiếp tục tăng trưởng, cơ sở hạ tầng có bước phát triển, quá trình công nghiệp hoá-hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn đạt được kết quả bước đầu, quan hệ sản xuất có bước đổi mới, đời sống của nhân dân được cải thiện về nhiều mặt, trình độ dân trí được nâng lên một bước, lĩnh vực văn hoá xã hội có nhiều mặt đạt được bước tiến quan trọng, nền tảng chính trị được củng cố, công cuộc đổi mới trên địa bàn phát triển với nhiều mặt tích cực, qua thực tiễn đã tạo được một số nhân tố mới có triển vọng tốt.
Tuy vậy, bước phát triển của địa phương vẫn còn hạn chế, yếu kém và khó khăn, nổi lên là: Tốc độ chuyển dịch cơ cấu của nền kinh tế còn chậm; công nghệ sản xuất nhìn chung còn lạc hậu, chậm đổi mới; đã xuất hiện tình trạng khủng hoảng cục bộ trên lĩnh vực nuôi trồng thuỷ sản, làm phát sinh hệ quả xấu về tài chính tín dụng; cơ sở hạ tầng vẫn đang trong tình trạng nghèo nàn, môi trường đầu tư chưa được cải thiện; chưa tạo được cơ sở vững chắc cho sự gia tăng tốc độ tăng trưởng kinh tế vào các năm tới.
Thực trạng tình hình là: lĩnh vực chính trị không ngừng được củng cố, tăng cường khá vững; lĩnh vực văn hoá xã hội đạt được bước tiến tích cực. Nhưng trên lĩnh vực kinh tế có những nhược điểm cơ bản: tốc độ tăng trưởng, nguồn lực đầu tư thu hút được và môi trường đầu tư đều thấp hơn nhiều so với mặt bằng chung của tỉnh. Trên thực tế đã bộc lộ rõ những khó khăn trong bước phát triển của địa phương trong thời kỳ công nghiệp hoá-hiện đại hoá của toàn tỉnh và cả nước.
II-KINH NGHIỆM THỰC TIỄN:
Qua thực tiễn có cơ sở để rút ra những kinh nghiệm sau:
1)Quyết tâm thực hiện công cuộc đổi mới được thể hiện chủ yếu và trước hết ở việc nắm vững đường lối, quan điểm của Đảng, chủ trương của cấp trên, vận dụng sáng tạo vào thực tiễn để xác định chương trình hành động đúng đắn và nổ lực tạo bước phát triển mới của địa phương. Trong quá trình lãnh đạo phải khắc phục được cả hai khuynh hướng lệch lạc, đó là: chần chừ do dự đến mức trì trệ và chủ quan duy ý chí, nhằm đảm bảo cho quá trình phát triển nhanh và bền vững, không bỏ lỡ thời cơ và hạn chế tối đa thiệt hại có thể tránh được. Coi trọng việc tổng kết thực tiễn để điều chỉnh, bổ sung hoàn thiện phương hướng hoạt động phù hợp với từng thời kỳ, nhân rộng nhân tố mới và điển hình tiên tiến.
2)Coi trọng việc bồi dưỡng sức và phát huy nội lực trong nhân dân, động viên cao độ nhiệt tình cách mạng của nhân dân theo phương hướng mục tiêu đã định bằng chương trình hành động cụ thể, hướng đến kết quả thiết thực. Chú ý đúng mức việc bồi dưỡng vun đắp lực lượng xung kích trên mặt trận mới. Tích cực tranh thủ đầu tư của Tỉnh và các nguồn lực khác để đẩy nhanh tốc độ phát triển của địa phương.
3) Không ngừng chăm lo xây dựng, nâng cao năng lực hoạt động của chính quyền và các tổ chức trong hệ thống chính trị. Đảm bảo cho quá trình thực hiện công cuộc đổi mới đất nước được tổ chức và đẩy mạnh thường xuyên trong từng đơn vị, địa phương nhằm đảm bảo thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đặt ra.
4) Chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ từng bước vươn lên ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ mới. Thực hiện chặt chẽ các quy trình quy hoạch, đào tạo, bố trí sử dụng cán bộ. Tạo được đội ngũ cán bộ tốt, đặc biệt là bản lĩnh chính trị, đạo đức và năng lực công tác. Kiên quyết thay thế kịp thời những cán bộ bất cập và mạnh dạn đề bạt số cán bộ trẻ có triển vọng tốt.
           
PHẦN THỨ HAI
PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ PHÁT TRIỂN KINH TẾ -XÃ HỘI
THỜI KỲ 2006 - 2010.
 
BỐI CẢNH CHUNG:
 
Năm năm tới, là thời kỳ mà cả nước và toàn tỉnh tiếp tục thực hiện đường lối đổi mới theo định hướng XHCN, “ Đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá-hiện đại hoá đất nước”, phấn đấu trở thành một nước công nghiệp và tỉnh trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Nhiệm vụ đó đặt ra trong bối cảnh tình hình thế giới tiếp tục có những diễn phức tạp và nhiều mặt khó lường. Bên cạnh đó, sự nghiệp cách mạng của đất nước đang có nhiều thời cơ và vận hội mới nhưng cũng đang đối mặt với những khó khăn, thách thức không thể xem thường. Trước tình hình đó, toàn quân, toàn dân phải tiếp tục quán triệt, nắm vững và vận dụng một cách sáng tạo, linh hoạt các quan điểm, đường lối của Đảng, tích cực tranh thủ sự lãnh, chỉ đạo của trên, quyết tâm vượt qua khó khăn, phấn đấu tạo bước tiến “đột phá” để theo kịp xu hướng phát triển chung của toàn tỉnh và cả nước trong thời kỳ mới.
NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN TRONG 5 NĂM TỚI LÀ:
*THUẬN LỢI:
1)Những thành tựu từ công cuộc đổi mới của đất nước, những chủ trương, chính sách mới của cấp trên tạo ra môi trường thuận lợi cho sự phát triển của địa phương.
2)Các chương trình, các dự án trọng điểm của Tỉnh, nhất là các dự án nằm ở các vùng lân cận được triển khai mạnh mẽ, có tác động thúc đẩy đến sự phát triển của huỵên.
Sự quan tâm lãnh, chỉ đạo và đầu tư của lãnh đạo và các ngành cấp tỉnh.
3)Thành tựu đạt được trên các mặt: phát triển và nâng cấp cở sở hạ tầng, tăng thêm năng lực sản xuất mới, chuyển giao công nghệ trong một số ngành phát triển sẽ tiếp tục phát huy hiệu quả.
4)Tiềm năng tự nhiên và lao động có những ưu thế, có khả năng phát huy cao hơn khi tổ chức và sắp xếp lại, tăng cường ứng dụng công nghệ mới vào sản xuất.
            5)Trình độ dân trí được nâng lên một bước, các vấn đề xã hội bức bách đã được giải quyết về cơ bản, tình hình chính trị-xã hội khá ổn định.
            *KHÓ KHĂN:
            1)Quy mô lực lượng sản xuất của các ngành công nghiệp và dịch vụ còn nhỏ, công nghệ lạc hậu, sức cạnh tranh thấp.
            2)Cơ sở hạ tầng nhìn chung còn yếu kém, nguồn lực tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế còn thấp.
            3)Nguy cơ rũi ro do thiên tai đang còn tồn tại ở mức cao, nhất là lũ lụt.
            4)Năng lực tổ chức, vận hành nền kinh tế sản xuất hàng hoá theo cơ chế thị trường của đội ngũ cán bộ còn nhiều mặt hạn chế.
ĐẶC ĐIỂM NGUỒN LỰC CÓ KHẢ NĂNG KHAI THÁC ĐỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRONG NHỮNG NĂM TỚI LÀ:
1)Đất đai: Toàn huyện hiện có 7.680 ha đất thục và đất có khả năng phát triển nông lâm nghiệp. Bao gồm: 5.600 ha đất thục chuyên lúa, màu; 320,1 ha đất màu mới khai hoang ở vùng cát nội đồng, 570 ha đất vườn ( gia đình ) và 1.326,7 ha đất rừng phòng hộ ở vùng cát. Nguồn nước ngọt dồi dào, công trình thuỷ điện Hương Điền đang mở ra khả năng giảm bớt tình trạng ngập úng trong sản xuất nông nghiệp.
Mặt hạn chế của nguồn lực này là: diện tích canh tác bình quân cho 1 lao động nông nghiệp thấp (chỉ 1.421,5 m2/1lao động) và không còn khả năng mở rộng thêm, 39,9% số diện tích sản xuất trong điều kiện chưa chủ động về thuỷ lợi và 67,6 % số diện tích là ruộng chuyên canh lúa, không có khả năng chuyển sang cây màu.
2)Tiềm năng về thuỷ sản: có gần 12km bờ biển, 3.535,73 ha mặt nước phá Tam Giang và 439,9 ha mặt nước sông hồ ( có 692,5 ha đã kiến thiết thành cơ sở nuôi trồng thuỷ sản), 377,2 ha ruộng lúa vùng trũng, là điều kiện để từng bước mở rộng nuôi trồng và khai thác thuỷ sản thành ngành sản xuất quan trọng.
Mặt hạn chế của nguồn lực này là: bờ biển thuộc vùng bãi ngang không có cửa lạch nên không thuận lợi trong việc phát triển lực lượng khai thác, là vùng “rốn lũ” nên hoạt động nuôi trồng thuỷ sản mang tính thời vụ rất cao.
3)Tiềm năng về du lịch: Phá Tam Giang rộng, với đặc điểm sinh thái độc đáo, đoạn bờ biển dài với môi trường tự nhiên tốt, có một số địa danh và di tích lịch sử nằm bên cạnh thành phố du lịch là khả năng có thể khai thác để phát triển dịch vụ du lịch.
4)Lao động: số dân trong tuổi lao động có 46.530 người; tỷ lệ lao động nông nhàn chiếm 30%. Kỹ năng lao động đã đạt được trình độ nhất định ở các ngành: trồng lúa nước, chăn nuôi lợn, xây dựng, có nhiều yếu tố cơ bản của làng nghề ở vùng này.
Mặt hạn chế của nguồn lực này là trên 85% lao động chưa qua đào tạo, một bộ phận còn thiếu tính cần cù chịu khó, còn nặng tư tưởng trông chờ ỷ lại.
5)Tác động của các đô thị và các khu công nghiệp lân cận:
Khoảng cách nối với các đô thị: Huế, Tứ Hạ, Phong Thu, Thuận An và các khu công nghiệp: Hương Sơ, Văn Xá, Đồng Lâm... rất gần, có khả năng tranh thủ được ảnh hưởng tác động và sự lan toả.
Mặt hạn chế của thế mạnh này là trong thời gian trước mắt, hệ thống giao thông vận tải nối với những nơi này chưa thuận lợi, còn ách tắc trong mùa mưa lũ.
6)Hiệu quả đầu tư trong những năm qua phát huy tác dụng: năng lực sản xuất mới tăng thêm, đảm bảo tốt hơn điều kiện phát triển kinh tế-xã hội, cải thiện đời sống nhân dân và tăng cường quốc phòng-an ninh.
A- PHƯƠNG HƯỚNG, MỤC TIÊU:
Căn cứ vào đường lối, quan điểm của Đảng, sự lãnh đạo của cấp trên và tình hình thực tế của địa phương, phương hướng, mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội của thời kỳ 2006-2010 là:
I-PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ CHUNG:
Trong 5 năm tới, với sự lãnh đạo của Đảng bộ, quân và dân trong huyện phát huy tinh thần đoàn kết và truyền thống cách mạng của quê hương, phát huy nội lực, tích cực tranh thủ mọi nguồn lực có được để đẩy nhanh tốc phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hoá-hiện đại hoá; gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hoá- xã hội và tiến bộ công bằng xã hội; không ngừng cải thiện và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; tăng cường công tác quốc phòng và an ninh, giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội; nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động của cả hệ thống chính trị, đảm bảo thực hiện thắng lợi các chỉ tiêu, nhiệm vụ thời kỳ 2006-2010, sớm đưa huỵên Quảng Điền ra khỏi tình trạng chậm phát triển; xây dựng huỵên Quảng Điền đạt được trình độ phát triển khá của tỉnh.
II-MỤC TIÊU:
           Tập trung mọi nỗ lực để đạt được 4 mục tiêu chủ yếu sau đây:
1) Tạo được bước phát triển đột phá lực lượng sản xuất và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá-hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn. Nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế, đảm bảo cho tốc độ tăng trưởng nhanh và phấn đấu đạt mức thu nhập bình quân đầu người/năm đến năm 2010 gấp đôi so với năm 2005.
           2) Xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ, tạo cơ sở nền tảng cho quá trình đẩy nhanh công nghiệp hoá-hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn. Đảm bảo giao thông thông suốt giữa các vùng trong huyện và nối thông với tỉnh lỵ và các đô thị lân cận; đảm bảo chủ động về thuỷ lợi trong sản xuất nông nghiệp. Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất đảm bảo yêu cầu phát triển của sự nghiệp giáo dục, y tế và văn hoá xã hội. Đẩy nhanh quá trình đô thị hoá.
           3) Đạt được những kết quả quan trọng trên các lĩnh vực: giáo dục, văn hoá, khoa học kỹ thuật, chính trị xã hội. Không ngừng cải thiện và nâng cao đời sống của nhân dân. Giảm căn bản số hộ nghèo, ổn định quy mô dân số. Hoàn thành việc định cư dân thuỷ diện, cấp nước sạch sinh hoạt và thanh toán các bệnh xã hội.
           4) Giữ vững ổn định về chính trị và trật tự an toàn xã hội; không ngừng củng cố và tăng cường thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân; hoàn thành tốt nhiệm vụ phòng thủ địa bàn, đảm bảo lành mạnh đời sống xã hội.
           III. CÁC CHỈ TIÊU CHỦ YẾU VÀ CÁC CHƯƠNG TRÌNH TRỌNG ĐIỂM:
           CÁC CHỈ TIÊU CHỦ YẾU:
           Phấn đấu đến năm 2010 đạt các chỉ tiêu chủ yếu sau:
1-Tổng giá trị sản xuất ( GO ) tăng bình quân hàng năm 17-18% ( trong đó dịch vụ tăng 23-24%; nông nghiệp tăng 7-8%; công nghiệp-xây dựng tăng 26-27%).
2-Cơ cấu các ngành ( giá trị sản xuất ):
-Dịch vụ chiếm 40-41%.
-Nông nghiệp chiếm 35-36%.
-Công nghiệp-xây dựng chiếm 23-24%.
3-Thu nhập bình quân đầu người tăng gấp đôi năm 2005 ( khoảng 750 USD).
4-Sản lượng sản phẩm chủ yếu:
-Tổng sản lượng lương thực có hạt bình quân hàng năm trên 35.000 tấn.
-Sản lượng thuỷ sản đến năm 2010 từ 6.600-6.700 tấn.
-Sản lượng thịt hơi ( gia súc, gia cầm ): 8.400-8.500 tấn.
5-Giá trị xuất khẩu đến năm 2010 đạt 5-5,5 triệu USD.
6-Tổng nguồn vốn đầu tư toàn xã hội trong 05 năm khoảng 1.000 tỷ đồng.
7-Thu ngân sách trên địa bàn đạt 15 tỷ đồng.
8-Hoàn thành chương trình kiên cố hoá kênh mương, bê tông hoá giao thông nông thôn, tầng hoá trường học, trạm y tế.
9- Đạt chuẩn phổ cập bậc Trung học.
10-Đạt chuẩn huỵên văn hoá.
11- Số hộ thuộc diện nghèo từ 10-11% ( theo chuẩn mới ).
12-Hàng năm tạo thêm việc làm cho 1.300-1.500 lao động.
13- Giữ ổn định tốc độ tăng dân số tự nhiên từ 1,13%-1,2%.
14- Tỷ lệ lao động xã hội qua đào tạo trên 30%.
15- Xuất khẩu lao động bình quân hàng năm từ 600-700 người.
16- Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng còn dưới 20%.
17- Tỷ lệ hộ dùng điện trên 98%.
18- Tỷ lệ hộ dùng nước sạch, hợp vệ sinh trên 95%.
19- Xoá hết nhà tạm bợ cho gia đình hộ nghèo.
20-Cư dân trong đô thị và các vùng đô thị hoá trên 27%.
CÁC CHƯƠNG TRÌNH TRỌNG ĐIỂM:
Trong 5 năm tới, tập trung sức lãnh đạo và ưu tiên bố trí nguồn lực để thực hiện thắng lợi các chương trình trọng điểm sau:
1)Chương trình phát triển nuôi trồng thuỷ sản bền vững:
            Mục tiêu:
Tiến hành đồng bộ các giải pháp tích cực để khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, đẩy lùi dịch bệnh, nâng cao khả năng cho lực lượng lao động, đảm bảo cho ngành nuôi trồng thuỷ sản phát triển ổn định và có hiệu quả.
Nội dung:
- Thực hiện nghiêm túc qui hoạch nuôi trồng thuỷ sản đã được phê duyệt.
- Đẩy mạnh công tác ứng dụng các tiến bộ khoa học, công nghệ trong nuôi trồng thuỷ sản và bảo vệ môi trường vùng nuôi.
- Đa dạng hoá và chuyển đổi phương thức nuôi trồng, cơ cấu vật nuôi phù hợp với điều kiện thực tế để hạn chế dần về rủi ro trong nuôi trồng.
2)Chương trình phát triển cụm tiểu thủ công nghiệp và làng nghề:
Mục tiêu:
-Nghiên cứu, xác định cụ thể phương hướng phát triển sản xuất cho các vùng, đầu tư xây dựng và phát triển lực lượng sản xuất đạt tiêu chí làng nghề cho mỗi đơn vị.
            -Đến năm 2010 có 6 - 7 cụm công nghiệp và 10-15 làng đạt tiêu chí làng nghề.
           Nội dung:
           -Xây dựng mô hình phát triển công nghiệp, TTCN phù hợp.
           -Hình thành và phát triển các trung tâm đô thị tiểu vùng, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, khai thác tốt các nguồn nguyên liệu và lao động tại chỗ.
          -Xây dựng qui hoạch tiểu thủ công nghiệp - làng nghề truyền thống và đề án công nghiệp chế biến nông thuỷ sản, đồng thời xây dựng chương trình khuyến công giai đoạn 2006-2010.
          -Đẩy mạnh việc ứng dụng các kết quả nghiên cứu KH-CN trong lĩnh vực CN-TTCN, nhất là các ngành và sản phẩm gắn với nông thôn để làm cơ sở xây dựng các dự án khuyến công hàng năm.
          -Việc phát triển TTCN-Làng nghề phải được đặt trong định hướng phát triển chung của tỉnh, phù hợp với điều kiện tự nhiên, KT-XH của huyện, của từng vung và có cơ chế liên kết hoạt động giữa các vùng.
           3)Chương trình phát triển kinh tế trang trại:
            Mục tiêu:
-Xây dựng và phát triển hệ thống trang trại thành những cơ sở sản xuất, kinh doanh có sức cạnh tranh trên thị trường.
-Đến năm 2010 có 20% trang trại có doanh số đạt từ 250 – 400 trđ/năm.
Nội dung:
-Tập trung củng cố và phát triển về chiều sâu kinh tế trang trại ở vùng cát nội đồng với các sản phẩm chủ lực: Lợn thịt, lợn giống nái ngoại, nấm các loại, thuỷ sản đặc sản và đàn bò chất lượng cao.
Xác định mô hình kết hợp nông nghiệp với lâm nghiệp và nuôi trồng thuỷ đặc sản, trồng trọt với chăn nuôi, cây hàng năm với cây lâu năm một cách hợp lý để hướng tới phát triển bền vững, tạo ra hiệu quả kinh tế cao và đồng thời tiếp tục thử nghiệm một số loại cây có khả năng thích ứng với vùng cát; đẩy mạnh chăn nuôi gia súc gia trại, phát triển 4-5 trang trại, trong đó có 1 - 2 trang trại chăn nuôi lợn giống có qui mô 50 con theo qui trình công nghiệp; tiếp tục mở rộng chương trình nuôi bò, ba ba, nuôi cá, trồng nấm ăn, nấm dược liệu trên vùng trang trại.
            - Soát xét việc sử dụng đất của mỗi trang trại, kiên quyết thu hồi phần diện tích đã giao nhưng không sử dụng tránh tình trạng chiếm dụng, lãng phí tiềm năng đất đai.
4)Chương trình xuất khẩu lao động:
            Mục tiêu:
- Tạo ra điều kiện thuận lợi cho người lao động có cơ hội tìm việc làm và tăng thu nhập.
- Xuất khẩu lao động bình quân hàng năm từ 600 – 700 lao động.
Nội dung:
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động và thực hiện chính sách ưu đãi về đào tạo nghề để thu hút lao động tham gia tích cực chương trình xuất khẩu lao động.
- Thực hiện công tác đào tạo nghề, đạo tạo các kiến thức cơ bản thích hợp để nâng cao chất lượng lao động xuất khẩu, đáp ứng yêu cầu của các đơn vị sử dụng lao động.
- Thực hiện việc liên kết với các tổ chức có thị trường xuất khẩu lao động, giới thiệu việc làm; tư vấn đầy đủ cho người lao động về các thông tin cần thiết, bảo đảm trung thực.
- Xây dựng giải pháp tổ chức thực hiện đồng bộ từ huyện đến xã, thị trấn; gắn trách nhiệm cụ thể của cá nhân trong quá trình thực hiện chương trình này.
5)Chương trình ứng dụng tiến bộ kỹ thuật và công nghệ sinh học vào sản xuất nông nghiệp:
Mục tiêu:
Tiếp cận và phát triển mạnh việc ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật và công nghệ sinh học về chọn giống cây, con, về quy trình sản xuất... để nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của các ngành: sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản.
Nội dung:
Phát huy cao độ nội lực và các lợi thế so sánh, đẩy mạnh việc nắm bắt, phổ biến, chuyển giao công nghệ cho sản xuất, coi đây là khâu đột phá quan trọng nhất để thúc đẩy phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn, nâng cao hiệu quả sản xuất, đạt được tốc độ tăng trưởng ổn định và bền vững:    
            - Tích cực tìm tòi, thực hiện để đổi mới và nâng cấp bộ giống cây trồng và vật nuôi theo hướng sản xuất có hiệu quả cao hơn, đưa vào sản xuất đại trà. Tranh thủ sự chi viện của các sở, viện nghiên cứu và các trường Đại học để xây dựng các mô hình thử nghiệm và đúc rút kinh nghiệm để nhân rộng.
            Phổ biến rộng rãi kỹ thuật ứng dụng công nghệ sinh học vào việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, phát triển và nâng cao chất lượng hàng hoá trong các trang trại...
            - Phổ cập kiến thức KH&CN cơ bản cho lực lượng lao động. Đúc kết các kết luận thực tiển từ các mô hình thử nghiệm để tiếp tục triển khai, chỉ đạo; đồng thời nhạy bén nắm bắt và ứng dụng trên quy mô phổ biến kỹ thuật tiên tiến vào các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ nhằm nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm.
            6)Chương trình chỉnh trang và phát triển đô thị:
            Mục tiêu:
Chỉnh trang, nâng cấp thị trấn Sịa; xây dựng thị trấn Thanh Hà; phát triển các thị tứ và trung tâm xã thành chuỗi đô thị.
Nội dung:
- Tăng cường công tác quản lý qui hoạch xây dựng: Tiến hành rà soát qui hoạch xây dựng đô thị, đẩy nhanh các qui hoạch đã được triển khai nghiên cứu, đồng thời xây dựng và tổ chức thiết kế qui hoạch cho các khu vực chưa có qui hoạch; công khai các qui hoạch được duyệt, tổ chức cắm mốc xây dựng ngoài thực địa và cung cấp các thông tin về qui hoạch xây dựng; điều chỉnh qui hoạch chung trung tâm huyện lỵ.
- Hình thành rõ nét các đô thị vệ tinh và thực hiện tốt công tác quản lý đô thị đảm bảo theo qui hoạch.
- Ưu tiên đầu tư, tập trung nguồn lực để chỉnh trang đô thị. Phát huy tối đa các nguồn lực, tranh thủ và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn; thực hiện các chính sách và giải pháp để khuyến khích, thu hút vốn đầu tư.
- Tăng cường các giải pháp quản lý môi trường đô thị ở trung tâm huyện lỵ và trung tâm các xã, đảm bảo phát triển ổn định, bền vững trong điều kiện đẩy mạnh CNH-HĐH. Đầu tư phát triển đô thị gắn với cải thiện hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, đảm vệ sinh môi trường, giữ gìn môi trường xanh, sạch, đẹp.
- Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng, quản lý của chính quyền các cấp. Phát huy vai trò của mặt trận, các đoàn thể nhân dân, các tổ chức xã hội. Tạo sự đoàn kết nhất trí và quyết tâm cao trong việc xây dựng, chỉnh trang và phát triển đô thị hoá trên địa bàn huyện.
7)Chương trình cải cách hành chính-Nâng cao năng lực thi hành công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức:
            Mục tiêu:
Nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực thi hành công vụ, bản lĩnh chính trị, tinh thần trách nhiệm và thái độ phục vụ của đội ngũ cán bộ, công chức, đảm bảo nâng cao năng lực vận hành của bộ máy quản lý Nhà nước.
Nội dung:
- Tiếp tục đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả cải cách thủ tục hành chính theo mô hình “ một cửa” từ huyện đến cơ sở; tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân tham gia quản lý nhà nước; tổ chức và quản lý hoạt động xã hội trên địa bàn huyện theo đúng pháp luật.
- Củng cố và hoàn thiện bộ máy hành chính nhà nước và cơ chế vận hành phù hợp theo yêu cầu nhiệm vụ mới.
- Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức hành chính có trình độ, năng lực và tận tuy với công việc, làm trong sạch bộ máy hành chính.
B- NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU:
I-ĐẨY MẠNH TỐC ĐỘ PHÁT TRIỂN KINH TẾ :
Phấn đấu chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ “ Nông nghiệp-Dịch vụ-Công nghiệp” từng bước phát triển theo hướng “ Dịch vụ-Nông nghiệp-Công nghiệp”, tạo khối lượng sản xuất hàng hoá chủ lực, đặc sản có giá trị và sức cạnh tranh cao trong thị trường nội địa và xuất khẩu.
Các hướng chủ yếu:
*Đẩy mạnh công nghiệp hoá-hiện đại hoá ngành trồng trọt, chăn nuôi và nuôi trồng thuỷ sản. Tăng khối lượng và chất lượng sản phẩm hàng hoá cho thị trường nội địa và xuất khẩu, nguyên liệu cho công nghiệp chế biến nông sản.
*Tạo bước phát triển “ bức phá” về quy mô sản xuất và trình độ ứng dụng công nghệ trong lĩnh vực công nghiệp, xây dựng; tăng nhanh tỷ suất hàng hoá có sức cạnh tranh trên thương trường.
*Phát triển đa dạng các loại hình dịch vụ, đáp ứng tốt nhu cầu phát triển sản xuất và đời sống.
*Tham gia vào thị trường lao động ở các khu công nghiệp, các đô thị trong nước và xuất khẩu.
NHIỆM VỤ CỦA MỖI NGÀNH LÀ:
1) Phát triển nông-ngư nghiệp:
Định hướng sản xuất ngành nông nghiệp theo hướng cơ cấu sản phẩm chủ yếu là: Gạo, thịt, cây thực phẩm, thuỷ sản, nguyên liệu cho cây công nghiệp chế biến nông sản.
Đẩy mạnh quá trình đổi mới tổ chức sản xuất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi gắn với ứng dụng rộng rãi tiến bộ khoa học và công nghệ để nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị sản phẩm, với nhiều mặt hàng chủ yếu, đặc sản, nhằm tạo được chuyển biến về chất trong sản xuất. Phấn đấu tăng giá trị thu nhập trên 1 đơn vị diện tích canh tác đạt giá trị sản phẩm bình quân từ 35-40 triệu đồng/ha/năm.
Coi trọng nắm bắt thông tin, dự báo thị trường; tăng cường kiểm soát chất lượng vật tư và dịch vụ phục vụ sản xuất nông nghiệp.
a) Sản xuất lương thực:
Ổn định diện tích gieo trồng cây lương thực có hạt khoảng 6.720 ha ( chiếm 61,5% diện tích gieo trồng ); trong đó diện tích trồng lúa khoảng 6.200, cây lượng thực có hạt khác 520 ha, tập trung chủ yếu ở các xã phía Nam và Thị trấn Sịa.
Tăng cường ứng dụng tiến bộ khoa học- kỹ thuật, thực hiện đồng bộ các biện pháp thâm canh, xác định mùa vụ hợp lý, sử dụng giống cây trồng mới có năng suất, chất lượng cao, phù hợp với điều kiện của từng địa bàn và giống cấp 1 trên quy mô phổ biến. Nâng cấp hệ thống giao thông và thuỷ lợi đảm bảo chủ động tưới tiêu và giảm thiểu tối đa thiệt hại do thiên tai gây ra. Tăng tỷ lệ cơ giới hoá nhằm nâng cao năng suất cây trồng và hiệu quả sản xuất.
Với cây lúa, hầu hết diện tích gieo trồng được sử dụng giống lúa cấp I, phấn đấu đạt năng suất bình quân hàng năm từ 55-56,5tạ/ha và sản lượng trên 35.000 tấn. Cơ cấu 3 cấp loại sản phẩm gạo: là chất lượng thông thường theo luồng tự sản tự tiêu, chất lượng cao theo nhu cầu của thị trường ngoài huyện và loại làm thức ăn chăn nuôi-chế biến thực phẩm với sản lượng quy gạo khoảng 23.000 tấn.
Luôn coi trọng việc thực nghiệm, tuyển chọn để đưa vào sản xuất đại trà những loại giống tiến tiến, mở rộng quy mô nhân giống cấp 1 để chủ động đảm bảo cơ bản nhu cầu về giống gieo cấy hết diện tích.
b)Cây công nghiệp và cây thực phẩm:
Chuyển 300- 350 ha ruộng lúa ở vùng đồng cao ít bị ngập úng sang trồng màu, hoa các loại; sử dụng có hiệu quả diện tích đất mới khai hoang ở vùng cát nội đồng để mở rộng vùng trồng cây công nghiệp và cây thực phẩm lên 3.800- 4.000 ha.
Củng cố và mở rộng vùng chuyên canh tập trung với hệ thống cơ sở hạ tầng đảm bảo sản xuất ổn định về tưới tiêu, vận chuyển sản phẩm. Tăng cường ứng dụng mạnh mẽ các tiến bộ về công nghệ sinh học, về kỹ thuật sản xuất, đưa vào một số cây trồng mới có hiệu quả cao hơn, tạo ra khối lượng sản phẩm lớn, có giá trị và sức cạnh tranh tốt về các mặt hàng rau sạch, đậu đổ, hoa tươi và nguyên liệu công nghiệp chế biến:
-Vùng cây thực phẩm có quy mô khoảng 1.500 đến 2.000 ha, tập trung chủ yếu ở các xã ven sông Bồ. Cơ cấu sản phẩm chủ yếu là rau quả xanh, đậu đổ. Xây dựng vùng rau sạch có chủng loại hàng hoá phù hợp với thực tiễn, từng bước xây dựng thương hiệu để hội nhập và chiếm thị phần ở thị trường Huế.
-Vùng cây công nghiệp ngắn ngày, cây ăn quả có quy mô khoảng 1.700 ha đến 2.200 ha với các nhóm cây chủ yếu: Lạc, mía công nghiệp, sắn, thuốc lá. Tập trung chủ yếu ở vùng cát nội đồng và trên chân đất lúa chuyển đổi cơ cấu sản xuất ở vùng phía Nam.
-Mở rộng qui mô vùng trồng hoa ở cánh đồng Quảng Thọ 2, phát triển diện tích trồng hoa chuyên canh và trồng hoa kiểng trên đất vườn ở các xã Thọ, Phú, Vinh và Thị trấn Sịa.
-Tận dụng nguyên liệu rơm để phát triển mạnh sản xuất nấm ăn, tập trung chủ yếu ở vùng cát nội đồng. Tổ chức sản xuất với quy mô phổ biến, sử dụng 10 tấn nguyên liệu/năm/cơ sở; đến năm 2010 có khoảng 150-200 cơ sở sản xuất nấm với sản lượng khoảng 750- 1.000 tấn nấm tươi/năm.
Đẩy mạnh chương trình cải tạo vườn tạp theo hướng công nghiệp hoá-hiện địa hoá với sản phẩm chủ yếu là: rau quả xanh, cây ăn quả, hoa và cây kiểng. Phấn đấu trong một số năm, hình thành được một số làng vườn cây kiểng ở các xã phía Nam (Quảng Thành, Quảng Thọ) và thị trấn Sịa.
Cùng với việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, giản dân để hình thành làng mạc, thực hiện đồng bộ các chính sách thúc đẩy phát triển mạnh trang trại, khai thác có hiệu quả tiềm năng đất đai ở vùng cát nội đồng và một số vùng khác.
Phương hướng phát triển sản xuất vùng cát là: kết hợp nông với lâm nghiệp, trồng trọt với chăn nuôi và nuôi trồng. Cơ cấu sản phẩm chủ yếu là: lợn, nấm, cây thực phẩm và thuỷ sản nuôi.
c)Chăn nuôi gia súc, gia cầm:
Cơ cấu sản phẩm của ngành này là thịt, trứng và con giống, với vật nuôi chủ yếu là lợn, gia cầm và trâu bò.
Lực lượng sản xuất bao gồm kinh tế hộ và các trang trại. Khai thác lợi thế về quỹ đất và môi trường tốt ở vùng đồi cát để hình thành vùng chăn nuôi tập trung với quy mô lớn, ứng dụng phổ biến quy trình chăn nuôi công nghiệp.
Chú trọng việc đổi mới giống vật nuôi theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và phù hợp với nhu cầu của thị trường. Phát triển đàn lợn theo hướng thâm canh, kết hợp tăng số lượng tổng đàn với tăng trọng lượng xuất chuồng; thực hiện triệt để chương trình nạc hoá đàn lợn, sind hoá đàn bò, tăng đàn bò thịt chất lượng cao với số lượng hợp lý, phù hợp với khả năng nguồn thức ăn (cả khả năng chuyển một số diện tích đất màu sang trồng cỏ làm thức ăn cho bò).
Thực hiện tốt các biện pháp liên hoàn từ khâu giống, chuồng trại, thức ăn, chăm sóc, thú y, phòng dịch, thị trường tiêu thụ ... để tăng năng suất, chất lượng sản phẩm và hiệu quả sản xuất. Xây dựng và phát triển hệ thống cơ sở sản xuất và cung ứng con giống, thức ăn cho chăn nuôi, cơ sở giết mổ, cơ sở chế biến và tiêu thụ sản phẩm ... để thúc đẩy sản xuất phát triển.
Phấn đấu đưa giá trị sản xuất của ngành chăn nuôi lên 50% trong tổng giá trị sản xuất nông nghiệp với tổng giá trị sản phẩm đến năm 2010 là: 241,7 tỷ đồng.
- Đàn bò khoảng 3.500 con ( trong đó có 60 % là bò lai ) và đàn trâu khoảng 2.210 con.
- Đàn lợn khoảng 60.000 con (trong đó có 18% là lợn nái).
- Phát huy thế mạnh về sản xuất lợn giống phục vụ nhu cầu trên địa bàn và thị trường ngoài huyện, ngoài tỉnh với sản lượng hàng năm khoảng 160.000 con.
- Tổng đàn gia cầm khoảng 500.000 con và khoảng 25 triệu quả trứng/năm.
d)Trồng rừng:
Tiếp tục phát triển và nâng cấp vốn rừng phòng hộ. Tổ chức bảo vệ tốt rừng hiện có, đẩy mạnh trồng mới và chăm sóc rừng, đặc biệt là rừng phân tán. Kết hợp phát triển nhóm cây bản địa với việc trồng mới các nhóm cây du nhập đã qua tuyển chọn để tăng tỷ lệ che phủ đất trống và tăng cường đai rừng phòng hộ.
Chú trọng chăm sóc bảo vệ và phát triển cả 3 loại rừng:
- Rừng tập trung ở cồn cát ven biển và vùng Vinh, Lợi, Thái với các loại cây keo, phi lao, điều và thảm cây bản địa.
- Rừng phân tán ở hệ thống ô nông lâm kết hợp, ven đê đập, nơi công cộng và đất trống với các loại cây keo, phi lao, xà cừ.
- Tìm các giống cây thích hợp để xây dựng đai rừng ngập nước ven phá Tam Giang ( cây Đước ).
Những năm tới, trồng mới mỗi năm khoảng 150-200 ha rừng tập trung, 40-50 vạn cây phân tán, đưa diện tích rừng trồng trong huyện lên khoảng 2.000 ha.
đ)Ngành thuỷ sản:
Phương hướng phát triển của ngành thuỷ sản là phải sớm khắc phục được tình trạng dịch bệnh đang rất trầm trọng trong vùng nuôi trồng trên phá, đảm bảo sản xuất phát triển ổn định và có hiệu quả. Từng bước phát triển một cách vững chắc quy mô nuôi trồng ở vùng nước ngọt, duy trì hoạt động khai thác gắn với yêu cầu bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, nhằm tạo ra khối lượng lớn đặc sản từ lợi thế so sánh, tăng vị thế trong thị trường. Phấn đấu đạt sản lượng bình quân hàng năm từ 6.600-6.700 tấn, gồm: 2.100 tấn từ nuôi trồng và 4.500 tấn từ khai thác; trong đó trên 660 tấn có giá trị xuất khẩu và đặc sản.
*Đảm bảo phát triển ổn định và có hiệu quả vùng nuôi trồng nước lợ:
- Kiên quyết khắc phục những nhân tố gây ô nhiễm môi trường. Trong những năm trước mắt, không mở rộng thêm vùng nuôi trồng trên phá Tam Giang, ổn định quy mô sản xuất ở vùng này 730 ha. Không để tái diễn tình trạng thâm canh nóng trong vùng ao chìm (mật độ rất cao và thức ăn tươi-thô), khơi thông luồng thuỷ đạo và cải tạo, sắp xếp lại ao hồ để từng khu nuôi có hệ thống ao lắng lọc trong vùng nuôi trồng tập trung; giải toả triệt để nò, sáo, báy trong phạm vi luồng lạch của phá Tam Giang, phát triển hình thức nuôi xen canh và luân canh đối tượng nuôi với các loài cá có giá trị và hiệu quả kinh tế cao như cá dìa, cá đối, cá hồng, cá rô phi đơn tính, cua... thay cho độc canh con tôm sú để giảm thiểu mức độ ô nhiễm môi trường.
- Thực hiện có hiệu quả các biện pháp quản lý môi trường để phòng ngừa và ngăn chặn dịch bệnh. Bằng các biện pháp tổng hợp như: vận động tính tự giác của người tham gia nuôi trồng, lập cơ chế tự quản trong mỗi tiểu vùng, tăng cường công tác quản lý hành chính để kiểm soát nghiêm các khâu thời vụ, quy trình chăm sóc, kiểm dịch và khống chế dịch bệnh.
-Nâng cao khả năng tổ chức sản xuất của các hộ nuôi trồng. Chấp nhận và duy trì năng suất bình quân hàng năm ở vùng ao chìm vào khoảng 07 tạ/ha đối với tôm sú. Trên cơ sở hiệu quả thực tế của vùng Tam Điền mà từng bước mở rộng một cách vững chắc quy mô nuôi theo phương thức công nghiệp ở vùng ven biển lên 44ha với năng suất bình quân hàng năm 3,0 tấn/ha. Tổng sản lượng bình quân hàng năm đạt khoảng 643 tấn.
*Phát triển một cách vững chắc hoạt động nuôi trồng ở vùng nước ngọt:
Thực hiện tốt các quy trình thâm canh tăng năng suất vật nuôi, hạ giá thành sản phẩm, gắn liền với các biện pháp phòng ngừa dịch bệnh để ổn định sản xuất, đạt sản lượng cá bình quân hàng năm trên 950 tấn.
-Phát triển số lồng và “chạn” lên 1.000 cái (hiện nay trên 840 cái), tương ứng với 50.000 m (tăng 17,8 %), tập trung ở vùng phía Tây phá Tam Giang và sông hồ nước ngọt.
-Chuyển 73,6 ha ruộng trũng thành vùng chuyên cá, nâng tổng số diện tích ruộng chuyên nuôi cá lên 120 ha, với năng suất bình quân hàng năm 4-5 tấn/ha. Phát triển rộng hình thức sản xuất lúa-cá ở một số chân ruộng trũng.
-Phát triển mạnh nuôi ba ba, tạo được khối lượng sản phẩm lớn về mặt hàng này.
*Tiến hành đồng bộ các khâu hỗ trợ đảm bảo cho hoạt động nuôi trồng phát triển ổn định:
-Củng cố và mở rộng các cơ sở sản xuất giống tôm, cá nước ngọt và ba ba theo nhu cầu của thị trường.
-Phát triển thu gom và nâng cấp các giống cá đặc sản: cá dìa, cá nâu và tìm khả năng tổ chức cơ sở sinh sản các loài này.
- Phát triển các cơ sở chế biến sản xuất thức ăn cho cá nước ngọt.
-Lập và triển khai dự án cải tạo, nâng cấp hạ tầng vùng nuôi trồng thuỷ sản từ thị trấn Sịa đến Quảng Thành.
*Duy trì hoạt động khai thác gắn với bảo vệ nguồn lợi:
-Tăng cường các biện pháp bảo vệ nguồn lợi trên phá Tam Giang, xoá bỏ căn bản các hoạt động khai thác bằng các phương tiện gây huỷ diệt như xung điện, báy và lưới mùng. Kiên quyết sắp xếp lại nghề sáo trên phá. Khuyến khích và tạo điều kiện cho các gia đình sống bằng những nghề này chuyển sang nghề nuôi trồng, chuôm, chài.
-Tăng năng lực cơ giới và cải tiến ngư lưới cụ để nâng cao năng lực khai thác biển. Xúc tiến khắc phục tồn tại của chương trình khai thác xa bờ để ổn định sản xuất đối với bộ phận lao động này. Phấn đấu đạt được mức tăng sản lượng khai thác bình quân hàng năm là 5,2%, đến năm 2010, sản lượng khai thác đạt khoảng 4.500 tấn, trong đó khoảng 3.800 sản phẩm từ khai thác biển.
-Nâng cấp bến neo đậu tàu thuyền và phát triển các dịch vụ nghề cá ở Cồn Gai ( Quảng Công ) để đáp ứng nhu cầu về đảm bảo hậu cần cho hoạt động khai thác, nuôi trồng thuỷ sản.
2)Ngành công nghiệp-xây dựng:
a)Hướng phát triển:
Tập trung đầu tư vào các vùng, ngành, các cơ sở trọng điểm, các làng nghề, đồng thời đẩy mạnh phát triển lực lượng phân tán rộng khắp để tạo bước phát triển bức phá lực lượng sản xuất công nghiệp và xây dựng, tạo bước chuyển tích cực trong cơ cấu kinh tế và phân công lao động xã hội.
Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng về giá trị sản xuất của các ngành công nghiệp-xây dựng bình quân hàng năm 26-27%. Đến năm 2010, các ngành thuộc khu vực này chiếm 17-18% lao động xã hội và 18-19% giá trị trong tổng giá trị sản xuất toàn huỵên với giá trị sản phẩm 403,3 tỷ đồng. Sản phẩm chủ yếu là: xây lắp dân dụng, sản phẩm chế biến từ nông sản, thuỷ sản, kim loại, hàng thêu và mây tre đan.
Phát triển mạnh các ngành có khả năng cạnh tranh và lợi thế về thị trường như xây dựng, cơ khí gia công, mộc dân dụng và các ngành nghề truyền thống của địa phương thu hút được nhiều lao động. Ưu tiên đầu tư để phát triển mạnh lĩnh vực chế biến nông lâm thuỷ sản, khai thác và sản xuất vật liệu xây dựng, cơ khí sửa chữa, thủ công mỹ nghệ và một số ngành nghề mới có trình độ kỹ thuật và công nghệ cao.
Khuyến khích các doanh nghiệp và các cơ sở sản xuất đầu tư đổi mới công nghệ, ứng dụng mạnh mẽ tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nhằm tăng nhanh tỷ trọng hàng hoá vào thị trường các đô thị và xuất khẩu và vươn tới trình độ trung bình về trang bị và ứng dụng công nghệ so với mặt bằng chung.
Xúc tiến quy hoạch không gian, xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật và có chính sách ưu đãi, tạo được môi trường tốt để thu hút đầu tư. Hình thành được một số cụm tập trung nhiều cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc lĩnh vực công nghiệp và xây dựng ở Bắc An Gia, cụm TTCN – Làng nghề Đông Quảng Lợi; hình thành cụm công nghiệp ở một số trung tâm tiểu vùng và trung tâm xã như: Hạ Lang, Sơn Tùng, Đông Xuyên, Phú Ngạn, Vĩnh Tu.
Coi trọng phát triển phân tán đối với những cơ sở sản xuất không gây ảnh hưởng xấu đến môi trường sinh thái và có quy mô nhỏ lẻ, gắn với việc tận dụng lực lượng lao động nông nhàn trong nông nghiệp. Thúc đẩy phát triển các làng nghề xây dựng ở Uất Mậu, Vân Căn, Lương Cổ; đan lát Bao La; bún bánh ở Ô Sa, Thanh Cần; hoa và cây kiểng ở La Vân Hạ, An Gia, Bác Vọng Tây... Từng bước hình thành làng nghề thêu ở các xã vùng trọng điểm lúa. Đến năm 2010 có 10-15 làng đạt tiêu chí làng nghề.
b)Nhiệm vụ chủ yếu của các ngành sản xuất cơ bản:
-Ngành xây dựng:
Đẩy mạnh phát triển cả 2 khâu cơ bản là năng lực của doanh nghiệp và lực lượng thợ.
Phát triển số lượng và nâng cao năng lực hoạt động của các doanh nghiệp về năng lực tổ chức quản lý, trang bị công nghệ sản xuất và năng lực tài chính, có khả năng đảm nhận phần lớn nhiệm vụ xây dựng ở cấp độ thông thường trên địa bàn và từng bước mở rộng thị trường.
Tăng mạnh lực lượng thợ lành nghề, đáp ứng nhu cầu trên địa bàn và không ngừng gia tăng thị phần trong các thị trường ngoài huyện.
-Cơ khí gia công và sửa chữa:
Tăng mạnh quy mô và nâng cao trình độ sản xuất của ngành cơ khí gia công chế tạo, phục vụ xây dựng dân dụng và sản xuất dụng cụ sinh hoạt gia đình, công cụ sản xuất. Không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm và sức cạnh tranh trên thị trường, tăng sức “chen” vào thị trường đô thị những vệ tinh gia công.
Nâng cao năng lực sửa chữa cơ giới, đảm bảo nhu cầu bảo dưỡng, thay thế nông ngư cụ, vận tải cơ giới trên địa bàn.
-Chế biến gỗ:
Nghề mộc hướng mạnh vào ngành hàng phục vụ xây dựng cơ bản, trang trí nội thất. Nghiên cứu khả năng khôi phục ngành mộc mỹ nghệ, hướng đến xuất khẩu sản phẩm.
-Sản xuất hàng tiêu dùng:
Phát triển đại trà ngành thêu gia công hàng xuất khẩu, sản xuất nón lá trong các thôn, xóm.
Tăng cường đầu tư đổi mới công nghệ, cải tiến kiểu dáng, mẫu mã sản phẩm để đưa ngành đan lát hội nhập vào thị trường đô thị và xuất khẩu.
Tìm khả năng để hình thành các vệ tinh gia công sản xuất các mặt hàng tiêu dùng cho các doanh nghiệp lớn về các sản phẩm: may mặc, giày da ...
 
 
-Công nghiệp chế biến nông-thuỷ sản:
Tập trung phát triển các ngành hàng phù hợp với trình độ và yêu cầu của đời sống. Phát triển chế biến thức ăn chăn nuôi cho tôm, cá, gia súc, gia cầm chiếm phần lớn thị phần trên địa bàn.
Xây dựng và phát triển số cơ sở chế biến thực phẩm từ hải sản, nông sản như: nước mắm, hải sản khô, bột ngũ cốc. Xây dựng một số cơ sở sơ chế, bảo quản cho lưu thông và tiêu thụ nông sản như: sấy và muối nấm ăn, ép dầu lạc, “thính” cá biển.
Trong những năm tới, lực lượng sản xuất của ngành công nghiệp và xây dựng phát triển theo hướng với sự kết hợp nhiều hình thức: hợp tác xã, doanh nghiệp tư nhân, hộ cá thể; kết hợp quá trình chuyên nghiệp hoá với bán chuyên nghiệp, gắn phân công lại lao động trong xã hội với phân công lao động trong mỗi hộ gia đình.
3)Các ngành dịch vụ:
Tiếp tục huy động các nguồn vốn đầu tư từ mọi thành phần kinh tế để nâng cấp, xây dựng mới kết cấu hạ tầng nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển ngành dịch vụ.
Phát triển mạnh các loại hình dịch vụ với chất lượng ngày càng cao, thu hút nhiều lao động, giải quyết việc làm, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Phấn đấu đạt giá trị sản xuất tăng bình quân hàng năm trên 23-24%, nâng tỷ trọng giá trị của ngành đến năm 2010 lên 695,5 tỷ đồng, chiếm 36-37% trong tổng giá trị sản xuất toàn huyện và chiếm 31-32% trong tổng lao động toàn xã hội.
Với các ngành hàng chủ yếu:
-Thu mua và tiêu thụ sản phẩm nội địa:
Phát triển mạng lưới thu mua, khơi luồng tiêu thụ sản phẩm ra ngoài huyện và xuất khẩu để giải phóng sức sản xuất. Xây dựng mạng lưới đại lý tiêu thụ các mặt hàng đặc sản của địa phương tại Huế và một số tỉnh khác, mở tuyến cung ứng hàng xuất khẩu đến tận các đầu mối xuất khẩu để giảm bớt sự điều tiết lợi nhuận của khâu trung gian.
-Cung ứng dịch vụ:
Phát triển lực lượng cung ứng vật tư sản xuất và xây dựng, cung cấp dịch vụ sinh hoạt, đáp ứng tốt nhất nhu cầu sản xuất và đời sống trên địa bàn.
Lực lượng cung ứng phải phát triển rộng khắp trong các thôn, xóm, hoạt động với nhiều phương thức phong phú: mua bán trực tiếp, mua trả chậm, đầu tư ứng trước.
Phát triển các ngành hàng dịch vụ sinh hoạt rộng khắp và đa dạng về chủng loại với chất lượng ngày càng cao như: sửa chữa điện tử và thiết bị sử dụng điện năng, trang trí nội thất, sửa chữa xe máy, cung ứng hàng tiêu dùng, hàng ẩm thực.
Củng cố hệ thống dịch vụ thương nghiệp ở khu trung tâm các xã, thị trấn. Phát triển mạng lưới chợ nông thôn với nhiều qui mô khác nhau. Ưu tiên phát triển chợ ở các khu vực trung tâm cụm xã, trung tâm tiểu vùng gắn với chợ trung tâm. Tăng cường công tác quản lý chợ theo qui hoạch.
-Vận tải:
Nâng cao năng lực và mở rộng mạng lưới vận tải thuỷ bộ, củng cố tuyến vận tải nối với tỉnh lỵ và một số tuyến ngoại tỉnh.
Tăng nhanh lực lượng vận tải ô tô. Cải tiến phương thức tiếp thị để hoà nhập mạnh hơn vào các thị trường vận tải hàng hoá, vận tải hành khách theo tuyến và dịch vụ đưa đón phục vụ đi lại theo yêu cầu của khách hàng.
-Bưu chính viễn thông:
 Tiếp tục phát triển mạng lưới bưu chính viễn thông rộng khắp. Tăng số máy thuê bao cố định từ 5 máy/100 người lên trên 10 máy/100 người. Nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động bưu chính, phục vụ tốt hơn nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội.
-Du lịch văn hoá lịch sử, sinh thái:
Xúc tiến khôi phục, tôn tạo, phát huy các giá trị tiềm năng, kết hợp với quá trình tổ chức sản xuất và xây dựng, kiến tạo môi trường và sản phẩm có giá trị để phát triển dịch vụ du lịch.
Phát huy các điểm di tích: Hoá Châu, Bác Vọng, Phước Yên, Niêm Phò, Sịa và xây dựng các làng nghề tiểu thủ công nghiệp để hình thành các tuyến du lịch văn hoá lịch sử.
Khai thác lợi thế tiềm năng sinh thái vùng bãi biển, vùng nước lợ phá Tam Giang và vùng nuôi trồng thuỷ sản, trằm chim Bắc Biên, hệ thống nông trại trên vùng cát nội đồng để hình thành tuyến du lịch sinh thái. Từng bước hình thành ngành dịch vụ nghỉ dưỡng, nhà hàng khi có đủ điều kiện.
Trong những năm tới, tập trung xây dựng hệ thống chợ gắn với từng khu tập trung lực lượng dịch vụ ở thị trấn huyện lỵ, ở trung tâm tiểu vùng và trung tâm các xã. Xây dựng chợ đầu mối trung tâm Sịa và các cụm dịch vụ du lịch vùng Đông Quảng Lợi, Tân Mỹ (Quảng Ngạn), Tân An ( Quảng Công ).
4)Kinh tế đối ngoại:
Tạo điều kiện thuận lợi và có chính sách thu hút các nguồn vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI). Thu hút có lựa chọn và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn hỗ trợ của chính phủ (ODA) và các nguồn vốn phi chính phủ (NGO) để tăng nguồn đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng và cải thiện dân sinh, giải quyết các vấn đề xã hội bức xúc.
Định hướng và khuyến khích các đơn vị sản xuất kinh doanh, các đơn vị sự nghiệp tìm đối tác ở các nước khác để hợp tác sản xuất kinh doanh, cung ứng và tiêu thụ sản phẩm, chuyển giao công nghệ. Mở rộng đối ngoại nhân dân, thu hút đầu tư của con em địa phương ở ngoài tỉnh và nước ngoài vào địa bàn.
5)Tài chính tín dụng:
Tiếp tục thực hiện tốt vai trò đòn bẩy của tài chính-tín dụng để thúc đẩy sản xuất-kinh doanh phát triển. Tăng cường bồi bổ, tạo nguồn thu trên địa bàn. Phấn đấu đạt mức thu ngân sách trên địa bàn huyện đến năm 2010 đạt 15 tỷ đồng.
Nâng cao hiệu quả hoạt động của Ngân hàng-Kho bạc và quỹ tín dụng nhân dân, đảm bảo phục vụ tốt nhu cầu phát triển sản xuất. Làm tốt công tác thẩm định và giám sát chặt chẽ việc sử dụng nguồn vốn đúng mục đích, có hiệu quả, giảm dần độ rủi ro trong sản xuất và tỷ lệ nợ quá hạn, khó đòi. Tạo điều kiện thuận lợi cho người vay vốn trên cơ sở đảm bảo nguyên tắc tín dụng. Thực hiện triệt để tiết kiệm chi cho đầu tư phát triển.
6) Phát triển các vùng và địa bàn:
6.1)Vùng huyện lỵ và các trung tâm xã, trung tâm tiểu vùng:
Phát triển và phát huy vai trò đầu tàu trong quá trình đô thị hoá và chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn toàn huyện. Đẩy mạnh tốc độ phát triển các ngành thuộc lĩnh vực công nghiệp, xây dựng và dịch vụ, nhằm tăng tốc độ phát triển kinh tế, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của sản xuất, dân sinh và tăng nguồn thu cho ngân sách.
            Trên cơ sở quy hoạch, tăng cường đầu tư, hoàn thành cơ bản hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế- xã hội, thể hiện rõ bộ mặt của trung tâm chính trị, kinh tế và văn hoá của huyện, và mỗi xã.
Đối với thị trấn Sịa, trong những năm trước mắt, đẩy mạnh chương trình chỉnh trang đô thị, xây dựng cải tạo hệ thống giao thông nội thị, hệ thống điện, cấp thoát nước, xử lý rác thải; giải toả một phần khu nghĩa địa ra khỏi Trung tâm hành chính; chỉnh trang bờ sông Sịa, triển khai các khu dân cư và các khu công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp-dịch vụ tập trung; phát triển các công trình phúc lợi và các công trình văn hoá, thể dục thể thao. Mở rộng giao thông đối ngoại để đẩy mạnh tốc độ phát triển, xây dựng Sịa ngang tầm với vai trò của đô thị huyện lỵ, một đô thị vệ tinh phía Đông Bắc của tỉnh lỵ.
Đối với các trung tâm xã và trung tâm tiểu vùng: Xây dựng Thanh Hà (Quảng Thành) thành thị trấn ở phía Đông Nam của huyện. Đẩy nhanh tốc độ đô thị hoá các vùng Tân Xuân Lai (Quảng Thọ), Sơn Tùng (Quảng Vinh.), Chợ Nịu (Quảng Thái), Đông Quảng Lợi (Quảng Lợi), Hạ Lang-Phú Lễ (Quảng Phú), Đông Xuyên-Mỹ Xá (Quảng An), Vĩnh Tu (Quảng Ngạn), Cồn Gai (Quảng Công). Xây dựng các khu dân cư đô thị mới: Tây Quảng Thành, Nam Bưu điện, Nam Vĩnh Hoà, Bắc An Gia.
Tăng cường quản lý nhà nước về công tác lập và thực hiện theo quy hoạch, đảm bảo quá trình đô thị hoá phát triển bền vững. Phấn đấu đến năm 2010, phạm vi đô thị hoá chiếm diện tích khoảng 2.000 ha, với số dân 25.500 người (chiếm 27,7% dân số trong huyện).
6.2)Đối với vùng trọng điểm lúa:
Khai thác và phát huy các lợi thế về đất đai, nguồn nước, nguồn lao động dồi dào, gần các đô thị và các khu công nghiệp để đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, nhằm tạo chuyển dịch quan trọng trong phân công lao động xã hội và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Trên cơ sở kết quả “dồn điền đổi thửa” chuyển mạnh sang sản xuất hàng hoá theo hướng chuyên canh tập trung, đẩy mạnh ứng dụng các tiến bộ khoa học-công nghệ nhằm tạo ra khối lượng lớn sản phẩm gạo có giá trị xuất khẩu.
Tiếp tục chuyển đổi một số diện tích thuộc vùng cao, ven sông Bồ để mở rộng vành đai sản xuất chuyên canh rau, hoa, quả, thực phẩm cao cấp cung cấp cho Thành phố Huế và các đô thị lân cận. Tận dụng diện tích ao hồ, đầm để nuôi cá nước ngọt; tiếp tục đẩy mạnh chương trình “cải tạo vườn tạp” và chương trình “hoa, cây kiểng” nhằm tạo ra hiệu quả kinh tế cao trên một ha canh tác. Kiên quyết chuyển đổi diện tích trồng cây lương thực hiệu quả thấp sang trồng các loại cây trồng có hiệu quả cao hơn. Phát triển mạnh chăn nuôi gia súc, gia cầm. Mở rộng các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp-dịch vụ; khôi phục và phát triển các làng nghề truyền thống, từng bước phân bổ lại lao động theo hướng tăng dần tỷ trọng lao động ngành nghề, dịch vụ trong nông thôn.
Tập trung các nguồn lực để cải thiện hệ thống hạ tầng phục vụ tốt cho yêu cầu sản xuất, nhất là chủ động trong tưới tiêu và vận tải cơ giới trong sản xuất nông nghiệp.
6.3)Đối với vùng ven biển và đầm phá:
Phát huy lợi thế về nuôi trồng, khai thác thuỷ sản và trồng trọt để phát triển kinh tế-xã hội vùng ven biển, đầm phá, tạo bước phát triển vững chắc ở địa bàn chiến lược về kinh tế và quốc phòng an ninh, có môi trường sinh thái bền vững.
Tập trung đẩy mạnh phát triển nuôi trồng thuỷ sản, phát huy tiềm năng đất nông nghiệp để tự cân đối một phần nhu cầu lương thực trên địa bàn, tham gia cung ứng rau quả xanh cho thị trường trong huyện và Huế. Phát triển mạnh các ngành dịch vụ và tiểu thủ công nghiệp gắn với nuôi trồng, đánh bắt và chế biến; khuyến khích hình thành các cơ sở sản xuất thức ăn nuôi tôm, cá, chế biến nước mắm, thính cá biển... sấy khô sản phẩm cá và các dịch vụ cho nuôi trồng và đánh bắt thuỷ sản.
Tăng cường đầu tư hạ tầng cho vùng nuôi, nhất là điện, cấp nước, hệ thống giao thông và tuyến đê bao ven phá gắn với việc định canh, đinh cư, xây dựng hệ thống làng mạc ổn định.
Quá trình phát triển phải tập trung vận động khắc phục tư tưởng trông chờ, ỷ lại sự chi viện của thân nhân ở nước ngoài của một bộ phận nhân dân.
6.4)Đối với vùng cát:
Tiếp tục phát huy ưu thế về tiềm năng ở cả 3 tiểu vùng: nội đồng, ven phá và rú cát. Đầu tư thâm canh tăng năng suất lúa ở vùng đã ổn định canh tác. Phát huy lợi thế tự nhiên ( cả đất đồng và đất vườn ) để mở rộng quy mô gieo trồng và nâng cao năng suất cây công nghiệp ngắn ngày và cây thực phẩm, rau quả xanh chiếm phần lớn trong sản lượng toàn huyện.
Trên cơ sở các mô hình kinh tế trang trại trên vùng cát, tiến hành soát xét tổ chức lại sản xuất theo mô hình nông-lâm kết hợp, đúc rút kinh nghiệm để nhân rộng các mô hình trang trại VAC làm ăn có hiệu quả. Tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân có nhu cầu và có năng lực phát triển trang trại ở vùng này. Nghiên cứu để đưa các chương trình tiên tiến phục vụ cho phát triển sản xuất, từng bước hình thành làng mạc mang tính ổn định lâu dài trên vùng này.
Xúc tiến quy hoạch, làm căn cứ cho việc tổ chức sản xuất ở vùng cát nội đồng và ven phá; ổn định vùng nuôi tôm nước lợ phía Đông và mở rộng hợp lý quy mô nuôi cá lồng nước ngọt ở vùng phía Tây phá Tam Giang, chuyển một số diện tích sản xuất lúa không chủ động và kém hiệu quả sang nuôi trồng thuỷ sản.
Sử dụng có hiệu quả các nguồn đầu tư từ chương trình quốc gia và ngân sách địa phương để hoàn thành cơ bản việc xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng thiết yếu. Phấn đấu đến năm 2010 đưa Quảng Lợi và Quảng Thái thoát khỏi vùng nghèo và từng bước vươn lên trở thành vùng phát triển.
7)Xây dựng và phát triển các thành phần kinh tế, tăng cường củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa:
Chăm lo xây dựng, có chính sách thu hút đầu tư và tạo môi trường pháp lý bình đẳng, thuận lợi cho các thành phần kinh tế phát triển.
Kinh tế nhà nước: Tranh thủ và phối hợp, tạo điều kiện để các đơn vị kinh tế nhà nước thực hiện tốt vai trò chủ đạo trong việc cung ứng vốn và các dịch vụ bưu chính viễn thông, điện năng, cấp nước sinh hoạt, xăng dầu, vật tư nông nghiệp.
Đối với hộ nông dân: Phát huy vai trò tự chủ trong tổ chức sản xuất và kinh doanh nhằm không ngừng nâng cao trình độ sản xuất và khả năng lựa chọn hướng làm ăn có hiệu quả, ứng dụng rộng rãi tiến bộ khoa học kỹ thuật-công nghệ vào sản xuất kinh doanh.
Đối với kinh tế tư nhân: Thúc đẩy quá trình hình thành và phát triển các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, hộ cá thể với các hình thức đa dạng về ngành nghề, để tạo ra khối lượng hàng hoá lớn. Tạo môi trường kinh doanh thực sự thuận lợi cho kinh tế tư nhân đầu tư vào mọi ngành nghề, lĩnh vực, không hạn chế qui mô, ngành nghề mà pháp luật không cấm.
Phấn đấu đến năm 2010 số doanh nghiệp, công ty TNHH tăng gấp 3 lần so với năm 2005.
Đối với kinh tế hợp tác và hợp tác xã: Tập trung củng cố nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động của các loại hình hợp tác xã. Đối với hợp tác xã nông nghiệp, thực hiện tốt chức năng quy hoạch và định hướng sản xuất; xây dựng cơ sở hạ tầng; chuyển giao kỹ thuật và công nghệ; chuyển đổi cơ cấu sản xuất; đa dạng hoá các loại hình dịch vụ và tham gia giải quyết các vấn đề xã hội. Các hợp tác xã ngành nghề, tiểu thủ công nghiệp-xây dựng, dịch vụ không ngừng đổi mới công nghệ, mẫu mã, kiểu dáng sản phẩm, tìm kiếm thị trường để nâng cao năng lực cạnh tranh trong cơ chế mới. Tiếp tục phát triển các hiệp hội trang trại, các tổ hợp tác sản xuất. Đa dạng hoá hình thức sở hữu và hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh. Khuyến khích huy động cổ phần, nguồn vốn của các thành viên trong các loại hình kinh tế tập thể, bảo đảm cho các hợp tác xã, các loại hình kinh tế hợp tác hoạt động theo đúng nguyên tắc: hợp tác kinh tế tự nguyện, tương trợ nhau giữa các thành viên; thực hiện hạch toán, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất, kinh doanh và cạnh tranh để phát triển.
Phát triển các hình thức tổ chức kinh doanh đan xen, hỗn hợp nhiều hình thức sở hữu, giữa các thành phần kinh tế với nhau, giữa các địa bàn, khu vực khác nhau ở trong và ngoài tỉnh.
II-PHÁT TRIỂN KẾT CẤU HẠ TẦNG CHỦ YẾU:
1)Phát triển mạnh hệ thống cơ sở hạ tầng chủ yếu để cải thiện cơ bản thực trạng về điều kiện phát triển kinh tế xã hội:
a-Giao thông vận tải:
Tranh thủ đầu tư của Tỉnh để tạo được bước đột phá về giao thông đối ngoại, rút ngắn khoảng cách đến Huế và các đô thị lân cận, khắc phục tình trạng bị chia cắt về giao thông trong mùa mưa lũ.
Công trình và chương trình chủ yếu là: đường Nguyễn Chí Thanh, tỉnh lộ 11, tỉnh lộ 4, cầu Tứ - Phú và đường dẫn từ đầu cầu ra tỉnh lộ 11 (Hạ Lang-Đức Trọng ), đường Sịa - Phong Thu, đường Hương-Quảng nối Sịa-Hương Phong, quốc lộ 49, nâng cấp các tuyến đường liên vùng, hoàn thành chương trình bê tông hoá giao thông nông thôn và nâng cấp giao thông nội đồng. Đường ven biển từ Quảng Ngạn - Quảng Công, xúc tiến lập dự án cầu Vĩnh Tu.
Nâng cấp tuyến đường dọc hai bên bờ sông Sịa; xây dựng mới cầu Bộ Phi và các tuyến đường vành đai nội thị; đường Nguyễn Chí Thanh nối dài, đường Tây Quảng Thành, đường Đông Xuyên-Mỹ Ốn, Sơn Tùng-Đông Lâm.
b-Thuỷ lợi:
            Đẩy mạnh tốc độ kiến thiết hệ thống thuỷ lợi để đảm bảo chủ động về cơ bản trong tổ chức sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản. Tập trung vào các công trình và chương trình chủ yếu: Tram bơm Tây Hưng cấp nước cho cánh đồng vùng Thái-Lợi, công trình tiêu úng cho vùng trọng điểm lúa Ninh-Hoà-Đại. Kiến thiết hệ thống cấp nước cho vùng nuôi trồng thuỷ sản tập trung và hoàn thành phần còn lại của chương trình kiên cố hoá kênh mương. Tiếp tục triển khai kè chống lỡ sông Bồ cho vùng Quảng Thọ, Quảng An, Quảng Phước.
c-Hệ thống cấp nước và cấp điện:
Tiếp tục phát triển hệ thống cấp nước sinh hoạt đến các xã Lợi-Thái-Công-Ngạn và các khu dân cư tập trung, đảm bảo cho trên 95% số hộ có điều kiện sử dụng nước sạch, hợp vệ sinh.
Phát triển lưới điện đến các vùng nuôi trồng thuỷ sản tập trung và những thôn chưa có điện. Tăng công suất cho những khu trung tâm và cụm công nghiệp, dịch vụ, tạo điều kiện cho trên 98% số hộ được dùng điện, đáp ứng tốt nhu cầu về điện năng cho hoạt động sản xuất kinh doanh.
d-Hệ thống cơ sở giáo dục, y tế và thiết chế văn hoá:
Tăng cường đầu tư cải thiện điều kiện cơ sở vật chất cho hoạt động của các lĩnh vực giáo dục, y tế và văn hoá. Tập trung vào các nhiệm vụ: hoàn thành chương trình kiên cố hoá trường, lớp học, kiên cố hoá trạm xá và xây dựng mới Bệnh viện huyện. Tiếp tục huy động các nguồn vốn để xây dựng thêm phòng học theo yêu cầu chuẩn hoá nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của sự nghiệp giáo dục.
           đ-Chỉnh trang đô thị:
Nâng cấp một bước bộ mặt của thị trấn huyện lỵ với các công trình chủ yếu: đường nội thị, hệ thống thoát nước và xử lý rác, chỉnh trang bờ sông Sịa và giải toả một phần bãi tha ma ở khu trung tâm hành chính. Xây dựng các khu đô thị mới: Bắc An Gia, Tây Thành. Hoàn thành xây dựng hệ thống chợ các xã và chợ đầu mối trung tâm Sịa.
e-Phát triển và nâng cấp một bước hệ thống công trình văn hoá:
Hoàn chỉnh Đền tưởng niệm liệt sỹ ở huỵên lỵ và bia tưởng niệm liệt sỹ ở các xã, bia chứng tích lịch sử, công viên Bắc thị trấn, công viên và nhà văn hoá các xã, hội quán thôn.
III-PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC- ĐÀO TẠO, KHOA HỌC CÔNG NGHỆ; PHÁT TRIỂN VĂN HOÁ- XÃ HỘI:
Tiếp tục đẩy mạnh quá trình thực hiện Nghị quyết hội nghị Trung ương 5 (khoá VIII), kết luận của hội nghị Trung ương lần thứ 10 ( khoá IX ) và Nghị quyết của Tỉnh uỷ về phát triển văn hoá, đảm bảo sự gắn kết giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt với không ngừng nâng cao văn hoá-nền tảng tinh thần của xã hội.
1) Giáo dục-đào tạo:
a) Tăng cường công tác giáo dục, vun đắp nhằm nâng cao tinh thần hiếu học trong mọi tầng lớp nhân dân, xây dựng một xã hội học tập.
b) Xúc tiến quy hoạch, coi trọng việc tuyển chọn để xây dựng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục có chất lượng, cơ cấu đồng bộ, đủ số lượng.
c) Trên cơ sở quy hoạch, tiến hành xúc tiến việc chỉnh trang khuôn viên trường học, đảm bảo môi trường, cảnh quang sư phạm; từng bước tăng cường cơ sở vật chất theo yêu cầu phát triển của sự nghiệp giáo dục trên địa bàn. Phấn đấu đến năm 2010, có trên 30% trường học mầm non, 50% trường học phổ thông đạt chuẩn quốc gia; hoàn thành phổ cập giáo dục bậc Trung học.
d) Tăng cường năng lực đào tạo của Trung tâm dạy nghề, Trung tâm giáo dục hướng nghiệp, Trung tâm giáo dục thường xuyên và các trung tâm học tập cộng đồng.
2) Về khoa học công nghệ và môi trường:
Đẩy mạnh việc nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao khoa học công nghệ vào sản xuất, coi đây là khâu đột phá quan trọng nhất để thúc đẩy phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn. Trước hết cần tập trung vào chương trình truyển chọn giống cây trồng, vật nuôi, bảo quản, chế biến nông hải sản, kỹ thuật nuôi trồng thuỷ sản.
Tăng cường đầu tư để từng bước hiện đại hoá hoạt động công sở trong quản lý, điều hành của bộ máy chính quyền các cấp. Coi trọng việc đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về công nghệ thông tin cho đội ngũ cán bộ quản lý, lãnh đạo của các cấp.
Đổi mới quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ, nhất là cơ chế quản lý về tài chính, nhân sự nhằm nâng cao hiệu quả nghiên cứu; thực nghiệm và chuyển giao khoa học công nghệ cho nông dân. Đẩy mạnh hoạt động xã hội hoá về khoa học công nghệ và bảo vệ môi trường. Áp dụng đồng bộ các biện pháp để bảo vệ môi trường sinh thái, nhất là trên phá Tam Giang, trung tâm huyện lỵ và các trung tâm xã, thị trấn, trung tâm tiểu vùng.
3) Y tế, dân số-gia đình và trẻ em:
a) Tiến hành xây dựng mới Bệnh viên huyện có quy mô 100 giường bệnh; có trang thiết bị và năng lực chuyên môn cần thiết để thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ sức khoẻ của nhân dân. Hoàn thành chương trình tầng hoá trạm y tế, 100% cơ sở y tế đạt chuẩn quốc gia.
b) Chú trọng xây dựng nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ cán bộ y tế các cấp. Phấn đấu mỗi xã có 1-2 bác sỹ, 1 trung cấp hộ sinh; phát triển mạng lưới y tế cộng đồng rộng khắp tất cả các thôn, xóm.
c) Nâng cao một bước sức khoẻ toàn dân theo hướng dự phòng tích cực, giáo dục dinh dưỡng, vệ sinh phòng bệnh, rèn luyện thân thể, nâng cao hiệu quả phòng và chữa bệnh, kết hợp y học hiện đại với y học cổ truyền, đa dạng hoá và kết hợp đồng bộ các loại hình phòng và chữa bệnh.
d) Đẩy mạnh việc xã hội hoá công tác dân số kế hoạch hoá gia đình, tăng cường hoạt động giáo dục truyền thông, giữ ổn định tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên đến năm 2010 từ 1,13-1,2%.
đ.Thực hiện tốt công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Phấn đấu đến năm 2010, hạ tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng xuống còn dưới 20%.
 
 
4) Văn hoá, thông tin, thể dục-thể thao:
a) Không ngừng nâng cao đời sống văn hoá ở cơ sở. Tiếp tục đẩy mạnh phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá đi vào chiều sâu, có chất lượng thật sự. Xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh, đấu tranh ngăn chặn, từng bước đẩy lùi các biểu hiện tiêu cực, sai trái trong đời sống xã hội, giữ gìn thuần phong mỹ tục, vun đắp lẽ sống tốt đẹp trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân.
b) Xây dựng và phát triển hệ thống thiết chế văn hoá trong mỗi đơn vị, cộng đồng dân cư. Quan tâm xây dựng, nâng cấp hội quán, cổng chào, cụm panô, sân bóng chuyền, bưu điện văn hoá xã, nhà văn hoá, công viên thiếu nhi...
Thực hiện một bước cơ bản chương trình chỉnh trang đô thị huyện lỵ với các công trình cơ bản như: cải tạo nâng cấp bờ sông Sịa, di chuyển nghĩa địa ra khỏi khu trung tâm, mở rộng và nâng cấp hệ thống giao thông nội thị, xây dựng hoàn thành khu công viên-Đền tưởng niệm liệt sỹ, khu văn hoá thể thao...
c) Thể dục-thể thao: Tiếp tục duy trì các môn thể thao truyền thống như đua ghe, vật võ, bóng chuyền, bóng đá, cầu lông... nhằm thu hút đông đảo công chúng tham gia. Phát động rộng rãi và thường xuyên phong trào thi đua rèn luyện thân thể trong mỗi thôn, xóm, cơ quan, trường học và các tầng lớp nhân dân.
5) Các vấn đề xã hội:
a) Tổ chức phân bổ lại lực lượng lao động và dân cư phù hợp với phương hướng sắp xếp lại cơ sở sản xuất, cơ cấu đầu tư, đặc điểm tình hình và quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội của từng vùng. Phát triển đa dạng hoá hoạt động đào tạo nghề đảm bảo nhu cầu lao động đã qua đào tạo theo yêu cầu của thị trường trong huyện và cung cấp nguồn lao động cho các đô thị, các khu công nghiệp. Khuyến khích lao động đi làm ăn ngoài tỉnh và tham gia xuất khẩu lao động ra nước ngoài.
b) Đẩy mạnh cuộc vận động xoá đói giảm nghèo bằng việc kết hợp đồng bộ các biện pháp đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng, tăng thêm năng lực sản xuất, chuyển giao công nghệ, bồi dưỡng năng lực sản xuất cho người lao động, vun đắp tinh thần cần cù sáng tạo trong lao động, phê phán, xoá bỏ tính chây lười trong lao động, tâm lý bảo thủ, trì trệ, trông chờ, ỷ lại. Giải quyết cơ bản các vấn đề xã hội bức xúc, nhất là định cư dân thuỷ diện, nước sinh hoạt, giải quyết việc làm...
IV-TĂNG CƯỜNG QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH:
Đảm bảo kết hợp chặt chẽ trong quá trình tiến hành đồng thời 2 nhiệm vụ chiến lược: xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong mỗi cấp, mỗi ngành. Tập trung vào các nhiệm vụ cơ bản là củng cố thế trận lòng dân, không ngừng tăng cường và nâng cao năng lực chiến đấu của lực lượng nòng cốt, nắm chắc tình hình địa bàn để chủ động đấu tranh giữ vững ổn định về chính trị và trật tự an toàn xã hội.
1) Thực hiện tốt cuộc vận động “Xây dựng cơ sở an toàn làm chủ sẵn sàng chiến đấu” và “phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc”. Nâng cao ý thức bảo vệ Tổ quốc và bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, ý thức cảnh giác và bản lĩnh đấu tranh chống chiến lược “diễn biến hoà bình” của địch trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân.
Mở rộng và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh” trong mỗi thôn, xóm. Giải quyết kịp thời và thoả đáng những mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân, không tạo ra những sơ hở để địch lợi dụng kích động gây mất ổn định chính trị trên địa bàn.
2) Coi trọng nhiệm vụ xây dựng lực lượng vũ trang, công an nhân dân vững mạnh, nhất là chất lượng chính trị để có độ tin cậy cao. Tăng cường huấn luyện để nâng cao năng lực chiến đấu và công tác, phát huy tốt vai trò của lực lượng nòng cốt trong thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân ở từng địa phương.
Thường xuyên củng cố phương án tác chiến phòng thủ địa bàn, xúc tiến một bước cơ bản việc xây dựng căn cứ phòng thủ, nâng cao chất lượng hoạt động trinh sát, chủ động đấu tranh giữ vững sự ổn định về chính trị, hoàn thành tốt nhiệm vụ chiến đấu phòng thủ địa bàn.
Thực hiện tốt nhiệm vụ xây dựng quân đội thường trực và quản lý, huấn luyện lực lượng dự bị động viên.
3) Tăng cường các biện pháp phòng ngừa xã hội, tạo chuyển biến mạnh về chiều sâu trong thực hiện chương trình quốc gia và phòng chống tội phạm.
Nâng cao chất lượng hoạt động và phối hợp đồng bộ hoạt động của các cơ quan chức năng trong quá trình tố tụng nhằm đấu tranh trấn áp tội phạm, tạo sức răn đe lớn, kết hợp với công tác giáo dục và các biện pháp phòng ngừa khác để ngăn chặn và phấn đấu giảm dần tình trạng tội phạm, nhất là nhóm tội phạm có tổ chức, tội phạm mang tính chất bạo lực, đặc biệt là không để xảy ra trọng án.
V-ĐỔI MỚI TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG CỦA NHÀ NƯỚC, THỰC HIỆN CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH, PHÁT HUY DÂN CHỦ, TĂNG CƯỜNG PHÁP CHẾ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA:
1)Tăng cường kiện toàn, củng cố và xây dựng chính quyền các cấp trong sạch vững mạnh. Nâng cao chất lượng hoạt động của HĐND các cấp trong giám sát, quyết định những vấn đề trọng yếu của địa phương và năng lực, hiệu quả quản lý, điều hành của UBND các cấp, nhất là cấp xã, thị trấn trên các lĩnh vực; coi trọng củng cố Ban điều hành thôn đủ mạnh, có đủ năng lực quản lý, tổ chức thực hiện các chủ trương, nghị quyết của cấp trên.
2)Thực hiện tốt đề án sắp xếp lại các phòng, ban chuyên môn trực thuộc UBND huyện và bộ máy cấp xã, thị trấn theo Nghị định 172 và Nghị định 121 của Chính phủ. Đẩy mạnh cải cách hành chính; giải quyết kịp thời các đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân theo luật định. Thực hiện tốt công tác phân công, phân cấp, nâng cao tính chủ động, thẩm quyền và trách nhiệm của cơ sở; đề cao trách nhiệm cá nhân, tập thể và người đứng đầu tổ chức; phát hiện, ngăn chặn, xử lý nghiêm minh các trường hợp cán bộ, công chức lợi dụng công việc để nhũng nhiễu gây phiền hà, bất bình trong nhân dân.
3) Tập trung xây dựng, đào tạo một cách cơ bản đội ngũ cán bộ, công chức hành chính công tâm, thạo việc, trong sạch. Kiên quyết đưa ra khỏi bộ máy nhà nước những cán bộ thoái hoá, biến chất và điều chuyển những người không đáp ứng được công việc. Tăng cường kỷ cương hành chính và trật tự kỷ cương xã hội trong bộ máy nhà nước. Thực hiện có kết quả chương trình hiện đại hoá nền hành chính nhà nước, hiện đại hoá công sở, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong lãnh đạo, quản lý.
4) Tập trung làm tốt công tác thi hành án, nhất là án dân sự, khắc phục cơ bản tình trạng tồn đọng kéo dài. Tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật, vận động nhân dân thực hiện sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật.
IV- PHÂN KỲ THỰC HIỆN:
            a.Kỳ mở đầu 2006 – 2007:
            *Các chỉ tiêu chủ yếu:
            1. Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất (GO) bình quân 15,7%/năm.
            Trong đó:           + Công nghiệp xây dựng tăng 26%/năm;
                                    + Nông lâm thuỷ sản tăng 6,7%/năm;
                                    + Dịch vụ tăng 23,4%/năm.
            2. Cơ cấu giá trị sản xuất và cơ cấu lao động:
            2.1. Cơ cấu giá trị sản xuất :
                        + Công nghiệp – Xây dựng: 19,9%;
                        + Nông lâm thuỷ sản: 46,7%;
                        + Dịch vụ: 33,4%.
            2.2 Cơ cấu lao động:
                        + Công nghiệp – Xây dựng: 15%;
                        + Nông lâm thuỷ sản: 54,5%;
                        + Dịch vụ: 30,5%.
            3. Thu nhập bình quân đầu người đạt 6,5 trđ/người/năm.
            4. Sản lượng sản phẩm chủ yếu:
                        + Tổng sản lượng lương thực có hạt bình quân trên 35.000 tấn.
                        + Sản lượng thuỷ sản bình quân: 4.800 tấn.
                        + Sản lượng thịt hơi bình quân: 5.400 – 5.500 tấn.
5.Giá trị xuất khẩu đến cuối năm 2007: 2,0 – 2,5 triệu USD.
            6.Tổng vốn đầu tư toàn xã hội: 298 tỷ đồng.
7.Thu ngân sách trên địa bàn đạt bình quân 10.250 triệu đồng.
            8.Hoàn thành 68,3% chương trình kiên cố hoá kênh mương (Năm 2006 hoàn thành 100% theo đề án tỉnh phê duyệt), 61,8% bê tông hoá giao thông nông thôn (Đến năm 2007 hoàn thành 100% theo đề án tỉnh phê duyệt), 70,3% kiên cố hoá trường học và 81,8% trạm y tế.
            9. 45,5% xã, thị trấn đạt chuẩn phổ cập bậc Trung học.
10. 70% cơ quan và 71,6% làng, thôn đạt chuẩn văn hoá.
11. Số hộ thuộc diện nghèo từ dưới 18% ( theo chuẩn mới ).
12. Hàng năm tạo thêm việc làm cho 1.300-1.500 lao động.
13. Giữ ổn định tốc độ tăng dân số tự nhiên từ 1,13%-1,20%.
14. Tỷ lệ lao động xã hội qua đào tạo trên 21%.
15. Đến cuối năm 2007: Xuất khẩu lao động 1.200 người.
16. Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng còn 21,5% .
17. Tỷ lệ hộ dùng điện 97,5%.
18. Tỷ lệ hộ dùng nước sạch, hợp vệ sinh trên 90%.
19. Xoá được trên 39% nhà tạm bợ cho gia đình hộ nghèo.
20. Cư dân trong đô thị và các vùng đô thị hoá trên 10%.
*Các chương trình trọng điểm:
1) Chương trình phát triển nuôi trồng thuỷ sản bền vững:
- Hoàn thành qui hoạch chi tiết và xúc tiến đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng vùng nuôi trồng thuỷ sản ở các xã QAn, QThành.
- 100% diện tích nuôi tôm được xử lý và quản lý môi trường đảm bảo qui trình.
- Thực hiện nghiêm túc công tác quản lý con giống và nuôi trồng thuỷ sản theo qui hoạch đã được duyệt.
- Ứng dụng các tiến bộ về kỹ thuật và thực hiện chính sách hỗ trợ để chuyển đổi cơ cấu vật nuôi.
2) Chương trình phát triển cụm tiểu thủ công nghiệp và làng nghề:
            - Phát triển 3 cụm công nghiệp: Bắc An Gia (Thị trấn Sịa), Hạ Lang (QPhú) và Đông Quảng Lợi.
- Số làng nghề: 6 làng nghề, gồm: Làng đan đát Bao La (QPhú) và Thủy Lập (QLợi); Làng thêu ren An Gia (Thị trấn Sịa) và Phú Lương (QAn); làng xây dựng Uất Mậu và Vân Căn (Thị trấn Sịa).
            - Số doanh nghiệp được thành lập: 18 doanh nghiệp trên các lĩnh vực: Sản xuất nông thuỷ sản, công nghiệp chế biến, xây dựng, dịch vụ.
- Số doanh nghiệp có doanh số đạt từ 2 – 3 tỷ đồng: 3 doanh nghiệp.
3) Chương trình phát triển kinh tế trang trại:
- Số trang trại tăng thêm 10 - 15 trang trại.
- Số trang trại có doanh thu đạt từ 250 – 300 trđ/năm: 3 trang trại.
- Trang trại có cơ sở sản xuất nấm với qui mô 10 tấn nguyên liệu/năm/cơ sở: 50 - 60 cơ sở.
4) Chương trình xuất khẩu lao động:
- Đào tạo nghề và phổ biến các kiến thức cơ bản để phục vụ xuất khẩu lao động bình quân hàng năm từ 600 -700 người.
- Xuất khẩu lao động 1.200 người.
5)Chương trình ứng dụng tiến bộ kỹ thuật và công nghệ sinh học vào sản xuất nông nghiệp:
-Tỷ lệ giống cấp I trên 93%.
- Hoàn thành và triển khai thực hiện qui hoạch ngành chăn nuôi.
            - Tỷ lệ lợn nái ngoại trên 0,8%.
- Tỷ lệ đàn bò lai trên 50%; tỷ lệ bò chất lượng cao trên 22,5%.
- Giá trị sản xuất/ha canh tác từ 27 - 28 trđ.
- Xây dựng vùng sản xuất chuyên canh có giá trị cao, phấn đấu đạt giá trị bình quân từ 100 - 130 trđ/ha.
6) Chương trình chính trang và phát triển đô thị:
+ Chỉnh trang, nâng cấp thị trấn Sịa:
- Hoàn chỉnh điều chỉnh qui hoạch chung thị trấn Sịa.
- Hoàn thành và triển khai thực hiện qui hoạch chi tiết Bắc An Gia.
- Cải tạo hệ thống giao thông nội thị, điện, cấp, thoát nước, xử lý rác thải; giải toả một phần khu nghĩa địa ra khỏi trung tâm hành chính; chỉnh trang bờ sông Sịa, mở rộng hệ thống giao thông đối ngoại.
Một số công trình trọng điểm: Đường Nguyễn Chí Thanh nối dài, nâng cấp tuyến đường dọc 2 bên bờ sông Sịa, Bệnh viện huyện, hoàn thành chợ trung tâm, các tuyến đường thuộc vành đai thị trấn huyện lỵ.
- Triển khai các khu dân cư đô thị: Nam Bưu điện, Nam Vĩnh Hoà, Bắc An Gia và các khu công nghiệp - TTCN - dịch vụ tập trung Bắc An Gia.
+ Xây dựng thị trấn Thanh Hà (QThành):
- Hoàn thành qui hoạch và triển khai thực hiện qui hoạch thị tứ Thanh Hà.
- Hoàn thành thủ tục đề xuất cấp trên phê duyệt đề án xây dựng thị trấn Thanh Hà.
- Xây dựng khu dân cư đô thị Tây Quảng Thành.
+ Phát triển các thị tứ và trung tâm xã thành chuỗi đô thị.
- Đẩy nhanh tốc độ đô thị hoá các vùng Tân Xuân Lai (Quảng Thọ), Sơn Tùng (Quảng Vinh.), Chợ Nịu (Quảng Thái), Đông Quảng Lợi (Quảng Lợi), Hạ Lang-Phú Lễ (Quảng Phú), Đông Xuyên-Mỹ Xá (Quảng An), Vĩnh Tu (Quảng Ngạn), Cồn Gai (Quảng Công).
- Hoàn thành các chợ trung tâm xã: QLợi, QCông, QNgạn, QAn, QPhú.
7) Chương trình cải cách hành chính-Nâng cao năng lực thi hành công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức:
            - Đơn giản hoá việc giải quyết yêu cầu của công dân và tổ chức theo hướng mẫu hoá, giảm thủ tục, rõ ràng, công khai, nâng cao ý thức trách nhiệm của công chức, khắc phục hiện tượng đùn đẩy, né tránh công việc, sách nhiễu, cửa quyền của công chức khi thực thi nhiệm vụ.
            - Rút ngắn thời gian nhận và trả hồ sơ.
            - Nâng cao trách nhiệm, sự phối hợp tốt hơn giữa các ngành.
            - Thực hiện nâng cao năng lực thi hành công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức ở tất cả các ngành, các cấp; khẩn trương, kiên quyết nhưng phải chặt chẽ, chú trọng về mặt chất lượng và phải gắn với việc củng cố tổ chức, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ để ngang tầm với yêu cầu của nhiệm vụ.
            - Công khai hoá về qui trình, thủ tục, thời gian, lệ phí trong việc giải quyết yêu cầu của công dân và tổ chức, nhất là về các lĩnh vực tài chính, XDCB, đất đai, đăng ký kinh doanh, thu hút vốn đầu tư.
            -Hoàn thành việc nối mạng thông tin nội bộ giữa UBND huyện và các ngành cấp huyện.
            b.Kỳ giữa 2008 – 2009:
            *Các chỉ tiêu chủ yếu:
1. Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất (GO) bình quân 17,6%/năm.
            Trong đó: + Công nghiệp xây dựng tăng 26,9%/năm;
      + Nông lâm thuỷ sản tăng 8,2%/năm;
      + Dịch vụ tăng 22,9%/năm.
            2. Cơ cấu giá trị sản xuất và cơ cấu lao động:
            2.1. Cơ cấu giá trị sản xuất:
                        + Công nghiệp – Xây dựng: 23,2%.
                        + Nông lâm thuỷ sản: 39,5%.
                        + Dịch vụ: 37,4%.
            2.2. Cơ cấu lao động:
                        + Công nghiệp – Xây dựng: 17%.
                        + Nông lâm thuỷ sản: 50%.
                        + Dịch vụ: 33%.
            3. Thu nhập bình quân đầu người đạt 8,7 trđ/người/năm.
4. Sản lượng sản phẩm chủ yếu:
                        + Tổng sản lượng lương thực có hạt trên 35.000 tấn.
                        + Sản lượng thuỷ sản bình quân trên 5.650tấn
                        + Sản lượng thịt hơi bình quân: 7.100 – 7.200 tấn.
            5. Gía trị xuất khẩu đến năm 2009: 4,0 – 4,5 triệu USD.
            6. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội: 452 tỷ đồng.
            7. Thu ngân sách trên địa bàn đạt bình quân 12.250 triệu đồng.
8. Hoàn thành 100% chương trình kiên cố hoá kênh mương, 92,4% bê tông hoá giao thông nông thôn, 95,5% kiên cố hoá hoá trường học và 100% trạm y tế.
            9. 90,9% xã, thị trấn đạt chuẩn phổ cập bậc Trung học.
10. 90% cơ quan và 91,2% làng, thôn đạt chuẩn văn hoá.
            11. Số hộ thuộc diện nghèo dưới 13,5% ( theo chuẩn mới ).
12. Hàng năm tạo thêm việc làm cho 2.000-2.500 lao động.
13. Giữ ổn định tốc độ tăng dân số tự nhiên từ 1,13%-1,20%.
14. Tỷ lệ lao động xã hội qua đào tạo trên 27%.
15.Đếncuối năm 2009: Xuất khẩu lao động 2.500 người.
16. Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng còn 20%.
17. Tỷ lệ hộ dùng điện trên 98%.
18. Tỷ lệ hộ dùng nước sạch, hợp vệ sinh trên 94%.
19. Xoá trên 78% nhà tạm bợ cho gia đình hộ nghèo.
            20. Cư dân trong đô thị và các vùng đô thị hoá trên 20%.
            *Các chương trình trọng điểm:
1) Chương trình phát triển nuôi trồng thuỷ sản bền vững:
- Tiếp tục thực hiện qui hoạch chi tiết vùng nuôi tôm QPhước, Thị Trấn Sịa.
- 100% diện tích nuôi tôm được xử lý và quản lý môi trường đảm bảo qui trình.
- Sơ, tổng kết công tác chuyển đổi cơ cấu vật nuôi để nhân rộng trên địa bàn.
         - Thực hiện nghiêm túc công tác quản lý nuôi trồng thuỷ sản theo qui hoạch đã được duyệt.
2) Chương trình phát triển cụm tiểu thủ công nghiệp và làng nghề:
         - Phát triển 3 cụm công nghiệp: Phú Ngạn (QThành), Sơn Tùng (QVinh) và Vĩnh Tu (Qngạn).
- Số làng nghề: 7 làng nghề, gồm: Làng sản xuất nước mắm Tây Hải (QNgạn); Làng thêu ren An Xuân (QAn); làng xây dựng Lương Cổ (Thị trấn Sịa); Làng bún, bánh Ô Sa - Thanh Cần (QVinh); Làng cây kiểng, hoa An Gia (Thị trấn Sịa), La Vân Hạ (QThọ) và Bác Vọng Tây (QPhú); Làng nón Phú Lễ (QPhú).
         - Số doanh nghiệp được thành lập: 27 doanh nghiệp trên các lĩnh vực: Sản xuất nông thuỷ sản, công nghiệp chế biến, xây dựng, dịch vụ.
- Số doanh nghiệp có doanh số đạt từ 2 – 3 tỷ đồng: 4 doanh nghiệp.
3) Chương trình phát triển kinh tế trang trại:
- Số trang trại tăng thêm 25 - 30 trang trại.
- Số trang trại có doanh thu đạt từ 300 – 350 trđ/năm: 4 trang trại.
- Trang trại có cơ sở sản xuất nấm với qui mô 10 tấn nguyên liệu/năm/cơ sở: 100 - 150 cơ sở.
4) Chương trình xuất khẩu lao động:
- Đào tạo nghề và phổ biến các kiến thức cơ bản để phục vụ xuất khẩu lao động bình quân hàng năm từ 600 -700 người.
- Xuất khẩu lao động 2.500 người.
5) Chương trình ứng dụng tiến bộ kỹ thuật và công nghệ sinh học vào sản xuất nông nghiệp:
- Tỷ lệ giống cấp I trên 96,5%.
- Tiếp tục thực hiện qui hoạch ngành chăn nuôi.
            - Tỷ lệ lợn nái ngoại trên 4,3%.
- Tỷ lệ đàn bò lai trên 55,8%; tỷ lệ bò chất lượng cao trên 29,5%.
- Gía trị sản xuất/ha canh tác từ 30 - 32trđ.
- Xây dựng vùng sản xuất chuyên canh có giá trị cao, phấn đấu đạt giá trị bình quân từ 130 - 150 trđ/ha.
6) Chương trình chính trang và phát triển đô thị:
- Tiếp tục thực hiện các công trình, dự án theo điều chỉnh qui hoạch chung thị trấn Sịa, qui hoạch chi tiết thị tứ Thanh Hà đã phê duyệt.
- Đẩy nhanh phát triển các thị tứ và trung tâm xã thành chuỗi đô thị.
- Một số công trình, dự án: Các công trình, dự án chuyển tiếp, dự án xây dựng đường và cầu Bộ Phi, Trung tâm hành chính tập trung, nhà thi đấu trung tâm, công viên Bắc Thị trấn Sịa, công viên và nhà văn hoá các xã.
7) Chương trình cải cách hành chinh-Nâng cao năng lực thi hành công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức:
- Tiếp tục cải tiến và công khai hoá qui trình giải quyết công việc cho công dân và tổ chức và đào tạo, đào tạo lại để không ngừng nâng cao năng lực, tính chủ động trong công tác của đội ngũ cán bộ, công chức.
- Hoàn thành việc nối mạng thông tin nội bộ giữa UBND huyện, các ngành cấp huyện và các xã, thị trấn.
- Tổ chức sơ kết 3 năm (2006 – 2008) chương trình nâng cao năng lực thi hành công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức.
            c.Kỳ cuối 2010:
            *Các chỉ tiêu chủ yếu:
1. Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất (GO) bình quân 19,7%/năm.
            Trong đó:           + Công nghiệp xây dựng tăng 28,9%/năm;
                                    + Nông lâm thuỷ sản tăng 9,9%/năm;
                        + Dịch vụ tăng 23,2%/năm.
            2. Cơ cấu giá trị sản xuất và cơ cấu lao động:
2.1. Cơ cấu giá trị sản xuất:
                        + Công nghiệp – Xây dựng: 23,5%.
                        + Nông lâm thuỷ sản: 36,1%.
                        + Dịch vụ: 40,4%.
            2.2. Cơ cấu lao động:
                        + Công nghiệp – Xây dựng: 18%.
                        + Nông lâm thuỷ sản: 48%.
                        + Dịch vụ: 34%.
            3. Thu nhập đầu người đạt 10,5 – 11,0 trđ/người/năm.
4. Sản lượng sản phẩm chủ yếu:
                        + Tổng sản lượng lương thực có hạt bình quân trên 35.000 tấn
                        + Sản lượng thuỷ sản 6.650 tấn.
                        + Sản lượng thịt hơi: 8.400 – 8.500 tấn.
            5. Giá trị xuất khẩu đến năm 2010 đạt 5,0 – 5,5 triệu USD.
            6. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội: 250 tỷ đồng.
            7. Thu ngân sách trên địa bàn đạt 15.000 triệu đồng.
            8. Hoàn thành chương trình kiên cố hoá kênh mương, bê tông hoá giao thông nông thôn, kiên cố hoá trường học, trạm y tế.
9. Đạt chuẩn phổ cập bậc Trung học.
10. 100% cơ quan, làng, thôn đạt chuẩn văn hoá. Đạt chuẩn huỵên văn hoá.
11. Số hộ thuộc diện nghèo từ 10-11% ( theo chuẩn mới ).
12. Tạo thêm việc làm cho 2.500 – 3.500 lao động.
13. Giữ ổn định tốc độ tăng dân số tự nhiên từ 1,13%-1,20%.
14. Tỷ lệ lao động xã hội qua đào tạo trên 30%.
15. Đến năm 2010: Xuất khẩu lao động 2.500 người.
16. Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng còn dưới 19% .
17. Tỷ lệ hộ dùng điện trên 98%.
18. Tỷ lệ hộ dùng nước sạch, hợp vệ sinh trên 95%.
19. Xoá hết nhà tạm bợ cho gia đình hộ nghèo.
20. Cư dân trong đô thị và các vùng đô thị hoá trên 27%.
*Các chương trình trọng điểm:
1) Chương trình phát triển nuôi trồng thuỷ sản bền vững:
- Hoàn thành qui hoạch chi tiết vùng nuôi trồng thuỷ sản các xã còn lại.
- 100% diện tích nuôi tôm được xử lý và quản lý môi trường đảm bảo qui trình.
- Thực hiện nghiêm túc công tác quản lý con giống và nuôi trồng thuỷ sản theo qui hoạch đã được duyệt.
2) Chương trình phát triển cụm tiểu thủ công nghiệp và làng nghề:
         - Phát triển 1 - 2 cụm công nghiệp: Đông Xuyên (QAn), mở rộng cụm công nghiệp Hạ Lang (QPhú).
- Số làng nghề: 4 - 5 làng nghề, gồm: Làng sản xuất nước mắm, ruốc Tân Thành, An Lộc (QCông); Làng nấu rượu Lai Hà (QThái) và An Thành (QThành); Làng thêu ren Thủ Lễ (QPhước).
         - Số doanh nghiệp được thành lập: 24 doanh nghiệp trên các lĩnh vực: Sản xuất nông thuỷ sản, công nghiệp chế biến, xây dựng, dịch vụ.
- Số doanh nghiệp có doanh số đạt từ 2 – 3 tỷ đồng: 2 doanh nghiệp.
3) Chương trình phát triển kinh tế trang trại:
- Số trang trại tăng thêm 25 - 30 trang trại.
- Số trang trại có doanh thu đạt từ 350 – 400 trđ/năm: 3 trang trại.
- Trang trại có cơ sở sản xuất nấm với qui mô 10 tấn nguyên liệu/năm/cơ sở: 200 cơ sở.
 
4) Chương trình xuất khẩu lao động:
- Đào tạo nghề và phổ biến các kiến thức cơ bản để phục vụ xuất khẩu lao động bình quân hàng năm từ 600 - 700 người.
- Xuất khẩu lao động 2.500 người.
5) Chương trình ứng dụng tiến bộ kỹ thuật và công nghệ sinh học vào sản xuất nông nghiệp:
- Tỷ lệ giống cấp I trên 98,4%.
- Tiếp tục thực hiện qui hoạch ngành chăn nuôi.
            - Tỷ lệ lợn nái ngoại trên 5,7%.
- Tỷ lệ đàn bò lai trên 60%; tỷ lệ bò chất lượng cao trên 34,3%.
- Gía trị sản xuất/ha canh tác từ 35 - 40trđ.
- Xây dựng vùng sản xuất chuyên canh có giá trị cao, phấn đấu đạt giá trị bình quân trên 150 trđ/ha.
6) Chương trình chỉnh trang và phát triển đô thị:
Hoàn thành cơ bản theo qui hoạch việc xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật, xã hội; thể hiện rõ nét bộ mặt của trung tâm chính trị, kinh tế, xã hội của huyện và mỗi xã.
7) Chương trình cải cách hành chính-Nâng cao năng lực thi hành công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức:
- Hoàn thành Đề án cải cách hành chính của huyện.
- Tổ chức tổng kết 5 năm (2006 – 2010) chương trình nâng cao năng lực thi hành công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức.
- 100% cơ quan, ban ngành của huyện nối mạng thông tin với các sở chuyên ngành của tỉnh.
            V-NHỮNG NHÓM GIẢI PHÁP CHÍNH:
1) Huy động và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư.
Lượng vốn đầu tư toàn xã hội cần thiết cho 5 năm tới là 1.000 tỷ đồng, từ các nguồn sau đây:
- Của nhân dân và các thành phần kinh tế khoảng 30-35%.
- Từ ngân sách nhà nước khoảng 50-60%.
- Từ các nguồn khác (ODA, NGO) khoảng 10-15%.
Để đạt được mục tiêu huy động các nguồn vốn, cần tập trung vào các hướng:
a) Xác định đúng phương hướng phát triển của từng tiểu vùng và nâng cấp cơ sở hạ tầng mà vận động và tạo điều kiện cho mỗi gia đình, mỗi doanh nghiệp tích cực đầu tư mở rộng sản xuất, kinh doanh, thi đua làm giàu từ nội lực của mình.
b) Tăng cường bồi dưỡng nguồn và khai thác tối đa mọi nguồn thu trên địa bàn, nhất là nguồn “đổi đất lấy hạ tầng”, huy động tốt sức dân bằng các kênh; thực hiện cơ chế “nhân dân và Nhà nước cùng làm”, lao động nghĩa vụ, thực hành tiết kiệm chi tiêu hành chính để đầu tư phát triển.
c) Áp dụng mức cao nhất chính sách ưu đãi đầu tư của Nhà nước để thu hút vốn của các nhà đầu tư trong và ngoài địa bàn vào đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh.
d) Nâng cao năng lực hoạt động và phát huy vai trò của các lực lượng tín dụng trong việc đáp ứng nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển của các doanh nghiệp và nhân dân.
đ) Tích cực tranh thủ nguồn đầu tư của ngân sách nhà nước cấp trên thông qua các chương trình mục tiêu và các dự án đã được phê duyệt để xây dựng kết cấu hạ tầng thiết yếu.
2)Thực hiện tốt công tác quy hoạch, định hướng phát triển, đảm bảo phát triển bền vững trên mọi lĩnh vực:
Sớm điều chỉnh, bổ sung để khắc phục những nhược điểm đã bộc lộ rõ trong các quy hoạch đã lập: Quy hoạch xây dựng hệ thống thuỷ lợi, quy hoạch phát triển nuôi trồng thuỷ sản vùng nước lợ, quy hoạch xây dựng thị trấn.
Hoàn chỉnh quy hoạch phát triển hệ thống giao thông, mở rộng quy hoạch chi tiết xây dựng trung tâm huỵên lỵ.
3) Tập trung phát triển nâng cao một bước quan trọng nguồn nhân lực trong các lĩnh vực:
a) Phối hợp với các trường, các trung tâm dạy nghề, phát huy kênh đào tạo trong các cơ sở sản xuất, xây dựng chương trình và khuyến khích, thu hút lao động trên địa bàn tham gia vào các chương trình đào tạo nâng cao kỷ năng lao động đối với những ngành nghề trong phương hướng phát triển của địa phương, và những ngành nghề mà thị trường lao động trong nước và ngoài nước đang có nhu cầu lớn.
b) Coi trọng công tác quy hoạch và đào tạo để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong các ngành, các lĩnh vực. Tạo được đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý có đủ năng lực tổ chức thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đặt ra, chú ý việc bồi dưỡng đội ngũ doanh nhân, đội ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế.
c) Thực hiện tốt việc lựa chọn, bồi dưỡng và phát huy tài năng trẻ, nhân tài trong đội ngũ cán bộ quản lý, chuyên gia kỹ thuật. Trong những năm tới phải thực hiện được các yêu cầu chủ yếu sau:
- Bồi dưỡng kiến thức cơ bản cho hầu hết lao động trực tiếp sản xuất trong các cơ sở nuôi trồng thuỷ sản, cho phần lớn lao động chuyên ngành VAC và những nông dân làm kinh tế trang trại, những nông dân sản xuất sản phẩm mới.
- Phát triển mạnh số lượng đội ngũ thợ theo yêu cầu của thị trường lao động trong nước và xuất khẩu lao động với các ngành nghề: nề, mộc dân dụng, mỹ nghệ xuất khẩu, cơ khí, thêu, may công nghiệp.
4) Đẩy mạnh việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ sinh học vào các ngành kinh tế:
a)Tiếp cận và phổ biến rộng rãi việc ứng dụng các tiến bộ về công nghệ sinh học, về quy trình kỹ thuật sản xuất, tạo ra bước phát triển mới về năng suất, chất lượng, chủng loại sản phẩm trong các ngành: trồng trọt, chăn nuôi và nuôi trồng thuỷ sản để tạo được lượng sản phẩm hàng hoá lớn, có chất lượng tốt và sức cạnh tranh cao trên thị trường. Các yêu cầu cụ thể là:
-Đổi mới và nâng cấp các loại giống cây trồng: lúa, lạc, rau, hoa và nạc hoá đàn lợn, tạo nguồn để tự cung ứng các loại giống thuỷ sản đặc sản: baba, ếch, một số giống cá nước ngọt và nước lợ, tôm sú.
-Ứng dụng phổ biến quy trình IPM trong ngành trồng trọt, ứng dụng quy trình sản xuất công nghiệp với quy mô khoảng 30% trong các ngành sản xuất rau xanh, hoa và chăn nuôi.
-Đảm bảo thực hiện nghiêm ngặt các quy trình về nuôi trồng thuỷ sản.
-Phát triển hệ thống cấp nước sinh hoạt đến vùng đầm trũng và khu dân cư tập trung.
b)Đổi mới một bước cơ bản về công nghệ sản xuất và trang thiết bị trong các ngành: xây dựng, cơ khí gia công chế tạo và sửa chữa, chế biến gỗ và chế biến nông, hải sản để trình độ công nghệ đạt mức trung bình; cơ giới sản xuất nông nghiệp và ngành đan lát đạt trình độ khá.
c)Ứng dụng rộng rãi tin học trong các ngành kinh tế kỹ thuật, trong hoạt động quản lý xã hội, hoạt động dạy và học của ngành giáo dục, một bộ phận đơn vị sản xuất hàng hoá và hộ nông dân.
5) Nâng cao năng lực của các thành phần kinh tế, phát triển mạnh thành phần kinh tế ngoài quốc doanh.
Phát triển đồng bộ về chiều sâu nguồn nhân lực, vốn, công nghệ để nâng cao năng lực hoạt động của các thành phần kinh tế. Đồng thời với việc củng cố và nâng cao chất lượng hệ thống các hợp tác xã, đẩy mạnh phát triển lực lượng kinh tế, doanh nghiệp tư nhân... nhằm thúc đẩy tốc độ phát triển của lực lượng sản xuất.
6) Mở rộng thị trường truyền thống, từng bước phát triển các yếu tố, các loại thị trường phù hợp với yêu cầu của sản xuất hàng hoá và hội nhập.
a)Kết hợp và phát huy mạnh mẽ khả năng của các lực lượng doanh nhân thuộc các thành phần kinh tế, chủ trang trại, hộ nông dân, phát triển mạng lưới thương nhân; đẩy mạnh các hoạt động quảng bá sản phẩm: hình thành thương hiệu sản phẩm, hình thành các đại lý tiêu thụ, liên kết tổ chức tiêu thụ, quảng cáo trên mạng thông tin (Website) để khơi thông luồng tiêu thụ hàng hoá nội địa ra ngoài tỉnh và xuất khẩu. Đồng thời tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa các lực lượng thu mua và cung ứng hàng hoá, đáp ứng tích cực nhu cầu phát triển sản xuất và đời sống trên địa bàn.
b)Hoàn thành sớm việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nhân dân, tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động kinh doanh bất động sản. Phát huy vai trò của các tổ chức tín dụng, nâng cao chất lượng và mở rộng hình thức tín chấp, kết hợp hoạt động quản lý nghiệp vụ với vai trò của chính quyền và đoàn thể để củng cố và giữ vững trật tự quan hệ tín dụng, đảm bảo cho thị trường tài chính phát triển tích cực.
c)Phát huy hiệu quả đầu tư của các tuyến đường Nguyễn Chí Thanh, tỉnh lộ 11, tỉnh lộ 4, quốc lộ 49, cầu Tứ Hạ-Quảng Phú để mở rộng thị trường tiếp cận giao lưu hàng hoá với Huế và các đô thị lân cận. Phát huy mạnh mẽ vai trò của chợ đầu mối Sịa, các chợ tiểu vùng, thị tứ Thanh Hà.
7) Đẩy mạnh cải cách hành chính, phát huy vai trò của hệ thống cơ quan quản lý nhà nước trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội.
a)Phát huy chức năng, hiệu quả hoạt động của các phòng Giao dịch hành chính. Đơn giản hoá và công khai hoá thủ tục thành chính, nâng cao trách nhiệm của đội ngũ công chức, giải quyết chính xác và kịp thời nhu cầu của nhân dân, của tổ chức và các thành phần kinh tế, tạo môi trường thông thoáng, khuyến khích nhân dân và các thành phần kinh tế đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh.
b)Phân công phân cấp hợp lý, chặt chẽ, tăng cường hoạt động kiểm tra, giám sát, chấn chỉnh kỷ luật hành chính, không ngừng củng cố và tăng cường trật tự quản lý nhà nước trên mọi lĩnh vực, xây dựng ý thức “sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật” trong đời sống xã hội.
 
PHẦN THỨ BA
TỔ CHỨC THỰC HIỆN VÀ KIẾN NGHỊ VỚI LÃNH ĐẠO TỈNH
 
I. TỔ CHỨC THỰC HIỆN:
1.Tổ chức quán triệt sâu rộng trong các ngành, các cấp, trong cán bộ, đảng viên và nhân dân để nhận thức đúng đắn về định hướng phát triển kế hoạch KT-XH 5 năm thời kỳ 2006-2010, tính tất yếu và nội dung của công cuộc đẩy mạnh CNH-HĐH nông nghiệp và nông thôn. Thảo luận dân chủ để làm rõ và cụ thể hoá những chủ trương lớn về phát triển lực lượng sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn; xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp; phát triển kết cấu hạ tầng và đô thị hoá nông thôn; xây dựng đời sống văn hoá-xã hội và phát triển nguồn nhân lực; củng cố quốc phòng và an ninh trong điều kiện cụ thể của ngành, của địa phương, đơn vị mình.
            2.Căn cứ vào Nghị quyết của Huyện uỷ, sự chỉ đạo của UBND tỉnh; UBND huyện xúc tiến xây dựng và hoàn thiện các quy hoạch, lập và triển khai các chương trình hoạt động cụ thể theo từng chuyên đề để từng bước thực hiện được các mục tiêu, nhiệm vụ được xác định.
            3.Với sự lãnh đạo của cấp uỷ, UBND các xã, thị trấn xúc tiến lập kế hoạch cụ thể, sát với tình hình thực tế của địa phương, tổ chức thực hiện có hiệu quả cao nhiệm vụ phát triển KT-XH trên địa bàn.
            4.Theo chức năng, nhiệm vụ được giao, các cơ quan chuyên môn cấp huyện, các đoàn thể nhân dân phát huy đầy đủ vai trò của mình, phối hợp chặt chẽ với lãnh đạo các xã, thị trấn để đẩy mạnh quá trình thực hiện nhiệm vụ được đặt ra.
            5.Thực hiện tốt nhiệm vụ tập hợp và thuyết phục, động viên các tầng lớp nhân dân hành động cách mạng, tạo được phong trào thi đua cách mạng sâu rộng của quần chúng nhân dân với sự nghiệp phát triển KT-XH vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh.
            6.Tổ chức sơ kết các giai đoạn vào các năm 2007, 2009 và tổng kết vào năm 2010 để đúc rút kinh nghiệm thực tiễn, xác định đúng đắn phương hướng nhiệm vụ phát triển KT-XH của địa phương trong thời kỳ tiếp theo.
II. KIẾN NGHỊ VỚI LÃNH ĐẠO TỈNH:
            Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nổ lực và đạt được một số kết quả đáng kể trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhưng đặt trong mặt bằng chung của tỉnh, huỵên Quảng Điền vẫn còn nhiều khó khăn trong việc đẩy mạnh phát triển kinh tế. Để cải thiện tình hình đó, trước hết Đảng bộ và quân, dân toàn huỵên phải phát huy tối đa nội lực để xây dựng quê hương, mặt khác cần phải có sự quan tâm lãnh, chỉ đạo và đầu tư của tỉnh.
            Kính đề nghị lãnh đạo tỉnh những vấn đề cụ thể:
            1.Cho Quảng Điền một cú hích mạnh để cải thiện cơ bản điều kiện về cơ sở hạ tầng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, dân sinh và môi trường nhằm thu hút đầu tư vào địa bàn.
            Trong 5 năm tới, đề nghị lãnh đạo tỉnh cho triển khai thực hiện các nội dung công việc mà lãnh đạo tỉnh đã có văn bản chủ trương lãnh đạo, chỉ đạo tại Quyết định số: 3.849/QĐ-UB ngày 29/12/2003 của UBND tỉnh về việc phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội huỵên Quảng Điền thời kỳ 2001-2010 và các thông báo kết luận của tỉnh trong các năm 2004, 2005.
            Gồm những công trình cơ bản sau:
            1.1.Xúc tiến chuẩn bị đầu tư cầu “Vĩnh Tu” (qua phá Tam Giang). Để khơi thông tuyến giao thông huyết mạch từ huỵên vào Huế và ngược lại, nhằm tranh thủ ảnh hưởng tích cực của đô thị Huế vào địa bàn huỵên, cải thiện cơ bản điều kiện giao thông vận tải cho hoạt động sản xuất, kinh doanh và văn hoá dân sinh, thu hút đầu tư vào địa bàn.
            Cho nghiên cứu khả năng phát triển du lịch sinh thái ở phá Tam Giang-vùng biển huỵên Quảng Điền.
            1.2.Đường “Sịa-Hương Quảng” dài 6.000 mét, dọc bờ Nam phá Tam Giang nối tỉnh lộ 4B ( từ Phong Điền xuống ) nối Sịa với Thuận An để thúc đẩy phát triển kinh tế.
1.3.Đầu tư xây dựng trạm bơm Tây Hưng để tưới chủ động cho 600 ha ở Quảng Lợi, Quảng Thái, giúp đưa 2 xã này thoát khỏi đói nghèo.
            1.4.Công trình tiêu úng cho vùng trọng điểm lúa Ninh - Hoà - Đại, đảm bảo ổn định sản xuất cho cánh đồng chiếm 78% diện tích 02 vụ lúa toàn huyện.
            2.Nâng cấp một bước hạ tầng kỹ thuật trung tâm thị trấn huỵên lỵ:
            -Nâng cấp hệ thống giao thông nội thị.
            -Chỉnh trang 2.500 mét bờ sông Sịa, đoạn đi qua trung tâm huỵên lỵ.
            -Di dời một số mồ mả ở trung tâm huỵên lỵ thuộc thị trấn Sịa.
            -Xây dựng một số công trình thuộc thiết chế văn hoá, sân vận động, bệnh viện.
            3.Cho xúc tiến lập và thực hiện dự án cải tạo và nâng cấp hệ thống hạ tầng vùng nuôi trồng thuỷ sản tập trung ( Nam phá Tam Giang ).
            Xuất phát từ thực trạng và yêu cầu nhiệm vụ cách mạng trong thời kỳ mới, UBND huỵên xin trình kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của huỵên thời kỳ 2006-2010 với quyết tâm đảm bảo cho huỵên Quảng Điền có bước phát triển theo kịp thới xu thế chung của toàn tỉnh.
 
                                                    TM. UỶ BAN NHÂN DÂN
Nơi nhận:                                                CHỦ TỊCH
-TT.HĐND và UBND tỉnh;    
-CT-PCT HĐND và UBND hụyên;      
-Đại biểu HĐND huỵên;     
-Các cơ quan, ban ngành cấp huỵên;             (Đã ký)
-UBND các xã, thị trấn;
-Lãnh đạo VP+CV;
-Lưu VT.                                                  Nguyễn Mới                                     
 
Xem tin theo ngày  
Thống kê truy cập
Truy câp tổng 5.251.973
Truy câp hiện tại 186