Xây dựng Mô hình thử nghiệm Nuôi cá Thát lát Cườm trong ao đất sử dụng Chế phẩm sinh học tại xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền
Ngày cập nhật 26/08/2019

THUYẾT MINH 

DỰ ÁN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

 

I.THÔNG TIN CHUNG VỀ ĐỀ TÀI

 

1

Tên dự án: Xây dựng Mô hình thử nghiệm Nuôi cá Thát lát Cườm trong ao đất sử dụng Chế phẩm sinh học tại xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền

 

1a

Mã số: 2019

 

 

 

 

QUY TRÌNH KỸ THUẬT

NUÔI CÁ THÁT LÁT CƯỜM

Tên địa phương: Cá Thát lát bông

I.ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC

1.Đặc điểm hình thái cá Thát lát cườm

- Cá có màu xám bạc, lưng sẫm hơn. Cá trưởng thành có 4 - 10 đốm đen, viền trắng nằm dọc phía trên vây hậu môn. Lúc cá còn nhỏ thân có 10 - 15 sọc đen ngang thân. Khoảng 2 tháng tuổi phần dưới của các sọc này xuất hiện các đốm nâu tròn. Cá càng lớn, đốm càng rõ nét trong khi các sọc mờ dần rồi mất hẳn.

- Cá có thân dài, dẹp bên, lưng gù độ cong của lưng tăng dần theo kích thước của cá. Lườn bụng bên có hai hàng gai chạy dọc theo lườn bụng. Vảy nhỏ phủ khắp thân và đầu, vảy dính rất chắc, khó rụng, vảy ở đầu có cùng kích thước với vảy ở thân. Đường bên bắt đầu từ mép trên của lỗ mang và chấm dứt ở điểm giữa gốc vi đuôi.

- Vi lưng của cá Thát lát cườm nhỏ, nằm lệch về phía sau của thân, gần điểm giữa gốc vi đuôi hơn gần chóp mõm. Gốc vi hậu môn rất dài, vi hậu môn nối liền với vi đuôi. Vi bụng rất nhỏ. Vi đuôi tròn, không chẻ hai.

- Cá có đầu nhỏ, nhọn, dẹp bên. Miệng trước, rạch miệng xiên kéo dài qua khỏi mắt, xương hàm trên phát triển. Răng nhọn, bén mọc ở hàm dưới, phần gai giữa xương hàm trước, xương khẩu cái, xương lá mía và lưỡi, ngoài ra còn có đám răng nhỏ mịn trên xương bướm phụ. Có một đôi râu mũi ngắn nhỏ. Mắt nằm lệch về phía lưng của đầu, gần chóp mõm hơn gần điểm cuối của xương nắp mang. Phần trán gần hai mắt cong và lồi tương đương đường kính mắt. Miệng rộng, màng da sau xương nắp mang rất phát triển.

2. Sự phân bố

- Trong tự nhiên cá Thát lát cườm phân bố ở nhiều nước trên thế giới. Ở Việt Nam, cá phân bố chủ yếu ở vùng đồng bằng sông Cửu Long và vùng Tây Nguyên (Gia Lai, Đắk Lắk, Kom Tum). Mùa nước lũ, cá đi vào các đồng ruộng ngập nước sinh sống, mùa khô, cá ra sống ở các rạch lớn, sông chính, các vực nước sâu. Cá Thát lát cườm sống được ở vực nước có lượng oxy thấp, nhờ cơ quan hô hấp phụ. Trong điều kiện tự nhiên, cá sống ở tầng giữa và tầng đáy.

3. Đặc điểm dinh dưỡng

- Cá thát lát cườm rất dữ. Cá tấn công những con cá khác để làm mồi khi đói. Khi bị sốc môi trường hoặc thay đổi mồi ăn đột ngột chúng có thể bỏ ăn cho đến khi kiệt sức và nhiễm bệnh chết. Do đó trong điều kiện nuôi không nên gây sốc môi trường hay thay đổi mồi đột ngột mà phải tập cho cá quen dần với thức ăn mới và cho cá ăn đúng giờ.

- Do cá thát lát cườm có đặc tính ăn động vật nên khi sử dụng thức ăn hỗn hợp để nuôi cá thì phải được tập cho ăn từ nhỏ.

4. Đặc điểm sinh trưởng

- Từ cá bột mới nở đến cá con 3 - 4 cm mất khoảng 30 - 40 ngày. Cá chậm lớn và phải mất thêm 30 - 40 ngày nữa cá mới đạt chiều dài 12 - 15 cm. Trong nuôi thương phẩm, từ tháng thứ 2 cá tăng trọng nhanh, sau 5 tháng nuôi cá có thể đạt khối lượng 400 - 500 g và sau 1 năm nuôi cá có thể đạt 1,2 kg. Mỗi năm cá có thể tăng trọng thêm 1 – 1,2 kg.

- So với cá cùng họ thì cá Thát lát cườm có tốc độ sinh trưởng nhanh hơn cá thát lát thường. Cá tăng trọng nhanh, thông thường cá sau 1 năm tuổi có chiều dài trung bình khoảng 30 – 40 cm và nặng từ 1kg – 1.2 kg/con. Trong ao nuôi, cá thát lát cườm có thể đạt kích cỡ 500 – 600 g/con sau 5 tháng nuôi.

5. Đặc điểm sinh sản

- Cá Thát lát cườm cái thành thục khoảng 3 năm tuổi, còn cá đực thành thục sớm hơn, khoảng 2 năm tuổi. Cá bố mẹ thát lát cườm được nuôi vỗ bằng thức ăn tươi sống gồm cá nhỏ, cá rô phi và tép và hệ số thành thục của cá thát lát cườm cái đạt cao nhất vào tháng 6 với giá trị là 4,63 ± 0,50%.

- Thức ăn cần thiết cho cá bột trong quá trình ươm ở tuần đầu là động vật phiêu sinh. Từ tuần thứ hai thức ăn là trùn chỉ. Cá Thát lát cườm được ươm 30 ngày trong bể với 4 loại thức ăn là trùn chỉ, ấu trùng muỗi đỏ, phiêu sinh động vật và lăng quăng cho tỷ lệ sống của cá từ 80 – 100%; đối với thức ăn là phiêu sinh động vật và lăng quăng cho tỷ lệ sống của cá thát lát cườm là 100%.

- Hiện nay, có nhiều cơ sở sản xuất giống và ương thát lát cườm ở một số tỉnh đồng bằng sông Cửu Long đã cung cấp giống cá thát lát cườm phục vụ cho nhu cầu nuôi thương phẩm đối tượng có giá trị kinh tế cao này. Theo Chi cục Thủy sản Hậu Giang, năm 2006 lượng giống cá thát lát cườm trong tỉnh sản xuất được là 3,5 triệu con.

II. KỸ THUẬT NUÔI CÁ  THÁT LÁT TRONG  TRONG AO CÓ SỬ DỤNG CHẾ PHẨM SINH HỌC

1.Cải tạo ao:

- Bước 1: Tháo cạn nước vét bớt bùn trong ao nuôi đồng thời diệt tạp. Gia cố bờ ao để chống xói lở giúp hạn chế bị rò rỉ.

- Bước 2: Bón vôi với liều lượng 15 kg/100 m2.

- Bước 3: Phơi đáy ao từ 5 - 7 ngày đến khi nứt chân chim thì lấy nước.

- Đối với ao mới: Ngâm rửa đáy ao khoảng 2 - 3 lần rồi xử lý.

Giai đoạn 01 – Trước khi thả giống

2. Lấy và xử lý nước

– Các bước chuẩn bị ao nuôi

Ngày 01

Lấy đầy nước ao nuôi ( mức trung bình 1,2m )

 Để lắng trong 02 ngày

Ngày 03

Khử trùng bằng Idion với liều 10ppm

Ngày 10

Đánh vi sinh vào ao nuôi lần 01(liều gấp đôi)

Ngày 16

Đánh vi sinh vào ao nuôi lần 02

3. Gây màu nước

- Gây màu nước bằng phân NPK, liều lượng 10 kg/5.000 m2 nước ao nuôi, tạt liên tục 3 ngày vào 9 - 10 giờ sáng. Khi nước ao nuôi chuyển sang màu tảo khuê (vàng hoặc nâu nhạt) hay xanh vỏ đậu là đạt yêu cầu.

- Đối với các ao khó gây màu nước, hay màu nước không bền thì nên bổ sung các thành phần khoáng chất.

- Kiểm tra và thay đổi các yếu tố môi trường hợp lý trước khi thả nuôi: pH 6.5 – 7.0 ; độ trong 35 - 45 cm.

4.Chọn và thả giống:

Sau thời gian đánh CPSH lần 2 (2 – 3 ngày), tiến hành thả giống

1. Chọn giống. Chọn con giống ở các địa chỉ có uy tín và nguồn gốc rõ ràng. Người nuôi có thể chọn bằng cảm quan hoặc qua xét nghiệm.

2. Thả giống. Thả giống cá với mật độ khoảng 4 con/m2. Thả vào lúc sáng sớm hoặc thả vào chiều mát và theo hướng trên gió.

5.Chăm sóc và quản lý

1. Cho ăn.

Khi cá  thả trong thời gian 15 ngày đầu, đặt sàn ăn và theo dõi lượng thức ăn qua thời gian ăn hết thức ăn trong sàn để điều chỉnh thức ăn cho phù hợp. Lượng thức ăn tháng 2 từ 8-10%, tháng 3 cho đến khi thu hoạch từ 3-5% trọng lượng cá trên toàn ao. Cho ăn 2 lần trong ngày.

Giai đoạn 02 – Trong quá trình nuôi

Theo hướng dẫn chung của hầu hết các công ty sản xuất, liều sử dụng chế phẩm sinh học trong quá trình nuôi như sau:

- Xử lý nước

Áp dụng liều ban đầu, sau đó đánh lại định kỳ hàng tuần trong suốt quá trình nuôi. Trong 2 tháng đầu sau thả giống: Định kỳ 10 ngày sử dụng Chế phẩm sinh học Aqua pond, với nồng độ 50g/1.000 m2.

Sang tháng thứ 3 trở đi: Định kỳ 10 ngày sử dụng Chế phẩm sinh học Aqua pond, với nồng độ 80g/1.000 m2

Ứng dụng chế phẩm sinh học trong suốt vụ nuôi cần được đáp ứng bằng cách quản lý chất lượng nước ao nuôi thích hợp, chất lượng thức ăn tốt, lịch cho ăn đúng. Các chỉ tiêu môi trường nước tối ưu giúp gia tăng hiệu quả sử dụng chế phẩm sinh học như sau:         

+  pH: 6.5 – 7.5 (dao động trong ngày không quá 0.5)

+  Độ trong: 30 - 40cm

+  NH3 < 0,1mg/l

+  H2S < 0,03 mg/l

+  Hàm lượng oxy hòa tan: > 2 mg/l

2. Quản lý môi trường ao nuôi

- Kiểm tra độ pH, trong ao 2 lần/ngày vào lúc 7h và 15h, và các chỉ tiêu môi trường khác.

3. Quản lý sức khỏe cá nuôi

- Hằng ngày quan sát các hoạt động bắt mồi và sức khỏe của cá trong ao, xem biểu hiện các bên ngoài của cá thông qua màu sắc, phụ bộ, thức ăn trong ao… để có thể phát hiện các dấu hiệu bất thường.

- Định kỳ từ 10-15 ngày xác định tốc độ tăng trưởng, sức khỏe  cũng như về trọng lượng nhằm điều chỉnh thức ăn của cá nuôi cho phù hợp.

 - Bổ sung thêm Vitamin C, thêm men tiêu hóa đường ruột, khoáng chất vào thức ăn cho tôm .

Thu hoạch:  Thời gian thường khoảng 8 tháng trở lên, khi cá đạt trọng lượng khoảng 2 con/ kg thì có thể thu hoạch.

 

Tập tin đính kèm:
Các tin khác
Xem tin theo ngày